close
Bước tới nội dung

Dịu Hương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nghệ sĩ Nhân dân
Dịu Hương
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên khai sinh
Trần Thị Dịu
Ngày sinh
(1919-10-21)21 tháng 10, 1919
Nơi sinh
Bình Lục, Hà Nam
Mất1994 (7475 tuổi)
Giới tínhnữ
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệpDiễn viên sân khấu
Lĩnh vựcChèo
Danh hiệuNghệ sĩ nhân dân (1984)
Sự nghiệp nghệ thuật
Nghệ danhDịu Hương
Giải thưởngNghệ sĩ nhân dân

Dịu Hương (21 tháng 10 năm 1919 1994) tên thật Trần Thị Dịu, là nghệ sĩ chèo người Việt Nam, bà được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân.

Bà sinh ngày 21 tháng 10 năm 1919 tại Bình Lục, Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), trong một gia đình có truyền thống hát chèo. Từ nhỏ, bà được cha mẹ truyền dạy cả chèo và tuồng, đồng thời theo các gánh hát đi biểu diễn ở nhiều địa phương. Ngay từ khi còn nhỏ, bà đã tham gia sân khấu với một số vai thiếu nhi trong các vở diễn truyền thống, qua đó tích lũy kinh nghiệm biểu diễn từ rất sớm.[1]

Năm 1928, bà dự tuyển vào lớp đào tạo diễn viên của rạp Quảng Lạc (Hà Nội). Tuy trúng tuyển, hoàn cảnh kinh tế khó khăn buộc bà phải vừa học vừa làm nên không thể tiếp tục theo học lâu dài và trở về quê sau khoảng ba năm. Đến năm 1933, bà tiếp tục theo đuổi con đường nghệ thuật khi gia nhập rạp tuồng Lạc Mộng Đài tại Hải Phòng. Từ khoảng 15 tuổi, bà đã đảm nhiệm nhiều vai nam trong tuồng như Lã BốTriệu Tử Long. Những năm sau đó, bà lần lượt cộng tác với các gánh hát Đồng Tâm (do Hoa Tâm làm chủ gánh) và Hiệp Thành, đồng thời biểu diễn cả tuồng lẫn chèo và tiếp tục học hỏi từ nhiều nghệ nhân đương thời.[1]

Sau Cách mạng Tháng Tám, bà tham gia hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến. Sau khi chồng qua đời trong chiến tranh, bà tiếp tục tham gia các hoạt động tuyên truyền, biểu diễn và giảng dạy văn nghệ ở nhiều địa phương. Năm 1948, bà được tuyển vào Đoàn Quân nhạc do nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát làm trưởng đoàn, chuyên diễn chèo, hát chèo, diễn các hoạt cảnh phục vụ quân đội. Năm 1950, bà chuyển sang công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam, nơi bà tham gia nghiên cứu, truyền dạy và bảo tồn nghệ thuật chèo cùng nhiều văn nghệ sĩ và nhà nghiên cứu như Lê Yên, Tô Vũ, Danh Thân, Văn Cao, Văn Thịnh, Mai Khanh...

Năm 1952, bà gia nhập Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương, cùng tổ chèo với vợ chồng nghệ nhân Năm Ngũ, Năm Hảo, Cả Tam. Ở đây bà còn tham gia giảng dạy hát chèo, hát dân ca cho nhiều nghệ sĩ như Thương Huyền, Song Kim, Mai Khanh... Trong giai đoạn này, bà tham gia dàn dựng vở Chị Trầm, một trong những tác phẩm tiêu biểu của sân khấu chèo cách mạng thời kỳ đầu. Năm 1957, với sự giúp đỡ của Đoàn chèo Cổ Phong và Ban nghiên cứu chèo, bà đóng thành công trích đoạn Suý Vân giả dại trong Kim Nham. Ở đây bà đã có nhiều sáng tạo trong hát, múa, đạo cụ, ghi đậm dấu ấn. Hai trích đoạn Suý Vân giả dạiThị Màu lên chùa mà bà đóng đã trở thành mấu mực với nhiều thế hệ diễn viên sau này.[2]

Năm 1955, bà biểu diễn tại Tiệp Khắc và được Huy hiệu Anh hùng Za-Nô-Xích. Sau đó bà còn biểu diễn ở Trung Quốc, Mông Cổ và nhiều nước khác.[1]

Năm 1959, do sức khoẻ không tốt, bà chuyển sang giảng dạy và nghiên cứu chèo. Năm 1967, bà giảng dạy tại Trường Nghệ thuật Sân khấu, đào tạo nhiều thế hệ diễn viên cho đến khi nghỉ hưu năm 1976.

Nghệ sĩ Dịu Hương là nghệ nhân có nhiều đóng góp và sáng tạo cho sân khấu chèo hiện đại. Bà được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đợt 1 (1984) và Huy hiệu Hồ Chí Minh. Con dâu bà là Nhà giáo ưu tú Thanh Tuyết, cũng là một diễn viên chèo, con gái Nghệ sĩ Nhân dân Năm Ngũ.[2] Dịu Hương mất vào năm 1994.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]