Muhammad Ali
| Muhammad Ali | |||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Ali năm 1967 | |||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||
| Biệt danh | The Greatest The People's Champion The Louisville Lip | ||||||||||||||
| Hạng cân | Hạng nặng | ||||||||||||||
| Chiều cao | 6 ft 3 in (191 cm)[1] | ||||||||||||||
| Sải tay | 78 in (198 cm) | ||||||||||||||
| Quốc tịch | người Mỹ | ||||||||||||||
| Sinh | 17 tháng 1, 1942 Louisville, Kentucky, Hoa Kỳ | ||||||||||||||
| Mất | 3 tháng 6, 2016 (74 tuổi) Scottsdale, Arizona, Hoa Kỳ | ||||||||||||||
| Tư thế | Chính thống | ||||||||||||||
| Sự nghiệp Quyền Anh | |||||||||||||||
| Tổng số trận | 61 | ||||||||||||||
| Thắng | 56 | ||||||||||||||
| Thắng KO | 37 | ||||||||||||||
| Thua | 5 | ||||||||||||||
| Hòa | 0 | ||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||
| Nguyên nhân mất | Sốc nhiễm khuẩn |
|---|---|
| Nơi an nghỉ | Louisville, Kentucky, Hoa Kỳ |
| Đài tưởng niệm |
|
| Dân tộc | người Mỹ gốc Phi |
| Tư cách công dân | Hoa Kỳ |
| Học vị | Central High School (1958)[3] |
| Tôn giáo | Hồi giáo Sunni |
| Cáo buộc hình sự | Từ chối quân dịch trong chiến tranh Việt Nam[4] |
| Mức phạt hình sự | 5 năm tù, bị phạt 10.000$ và cấm thi đấu quyền Anh ba năm.[4] |
| Phán quyết bị đảo ngược[4] | |
| Phối ngẫu | Yolanda Williams (1986–2016), Veronica Porsche Ali (1977–1986), Belinda Boyd (1967–1977), Sonji Roi (1964–1966)[3] |
| Con cái | Laila Ali, Hana Ali, Asaad Amin, Khaliah Ali, Muhammad Ali Jr., Rasheda Ali, Jamillah Ali, Miya Ali, Maryum Ali[3] |
| Cha mẹ | Cassius Marcellus Clay, Sr. Odessa Grady Clay[3] |
| Người thân | Rahman Ali (anh em) |
| Giải thưởng |
|
Muhammad Ali (/ɑːˈliː/;[5] tên khai sinh: Cassius Marcellus Clay Jr.; (17 tháng 1 năm 1942 – 3 tháng 6 năm 2016) là một cựu vận động viên quyền anh, nhà hoạt động xã hội người Mỹ. Có biệt danh là Người vĩ đại nhất ("The Greatest"), ông nổi tiếng là một trong những hình mẫu quan trọng trong thể thao của thế kỷ 20 và là một trong những tay đấm boxing vĩ đại nhất mọi thời đại, người từng 3 lần giành chức vô địch hạng nặng và một lần dành huy chương vàng Olympic hạng vừa. Năm 1999, Ali được tạp chí thể thao Sports Illustrated và BBC tôn vinh là "vận động viên của thế kỷ".[6]
Ali sinh ra và lớn lên tại Louisville, Kentucky và bắt đầu tập luyện boxing nghiệp dư từ năm 12 tuổi. Lúc 18, ông thắng huy chương vàng trong giải hạng nhẹ tại Olympics Mùa Hè 1960, và trở thành tay đấm chuyên nghiệp một năm sau đó. Ông cải sang đạo Hồi sau năm 1961, và lấy tên là Muhammad Ali. Ông thắng giải hạng nặng từ Sonny Liston ở tuổi 22 năm 1964. Năm 1966, Ali từ chối nhập ngũ, do niềm tin tôn giáo và đạo đức nên không tham gia chiến tranh Việt Nam. Ông bị bắt, và bắt phải giải nghệ tạm thời. Ông được tuyên bố vô tội và được thả năm 1971.
Ali là một võ sĩ hạng nặng hàng đầu của thế kỷ 20, và ông vẫn là nhà vô địch ba lần duy nhất của lĩnh vực này. Kỷ lục của ông là đánh bại 21 võ sĩ giải hạng nặng thế giới và giành được 14 danh hiệu trận đấu đã tồn tại trong 35 năm. Ali là võ sĩ duy nhất được vinh danh là võ sĩ của The Ring 6 lần. đã được xếp hạng là võ sĩ hạng nặng giỏi nhất mọi thời đại, và là vận động viên vĩ đại nhất thế kỷ 20 theo Sports Illustrated, Sports Person of the Century của BBC và là vận động viên vĩ đại thứ ba của thế kỷ 20 theo ESPN SportsCentury. Ông đã tham gia vào nhiều trận đấu quyền anh lịch sử, đáng chú ý nhất là trận đấu Joe Frazier, và trận với George Foreman được gọi là "The Rumble in the Jungle" được gọi là "sự kiện thể thao lớn nhất thế kỷ 20" và được theo dõi bởi khán giả truyền hình ước tính tới 1 tỷ người trên toàn thế giới, trở thành chương trình truyền hình trực tiếp được xem nhiều nhất trên thế giới vào thời điểm đó. Ông nổi tiếng hay nói chuyện kiểu khích bác ("trash-talking"), theo vần điệu kiểu hip hop.
Ngoài ra, Ali cũng khá nổi tiếng với vai trò nhạc sĩ, ông từng được có hai đề cử giải Grammy. Ông cũng nổi bật trong vai trò diễn viên và nhà văn, phát hành hai cuốn tự truyện. Ali nghỉ hưu về quyền anh năm 1981 và tập trung vào tôn giáo và từ thiện. Năm 1984, ông công khai chẩn đoán bị hội chứng Parkinson, có thể do chấn thương liên quan đến Boxing. Trong những năm cuối đời, ông xuất hiện ngày càng hạn chế khi tình trạng bệnh của ông trở nên tồi tệ hơn.
Tuổi thơ
[sửa | sửa mã nguồn]Cassius Marcellus Clay Jr.[7] (/ˈkæʃəs/) sinh ngày 17 tháng 1 năm 1942 tại Louisville, Kentucky[8] là con của Odessa Grady Clay và Cassius Marcellus Clay Sr.[9][10][11] Clay cha (Sr.) được đặt tên theo chính trị gia Đảng Cộng hòa và nhà bãi nô thế kỷ 19 Cassius Marcellus Clay. Ông là hậu duệ của những người nô lệ ở miền Nam thời tiền nội chiến, và chủ yếu có nguồn gốc châu Phi, cùng với dòng máu Ireland[12] và Anh.[13][14] Xét nghiệm DNA thực hiện năm 2018 cho thấy Clay là hậu duệ của cựu nô lệ Archer Alexander[15]
Cha của ông là một thợ vẽ biển hiệu và biển quảng cáo,[8][9] còn mẹ ông là người giúp việc gia đình. Mặc dù Cassius cha theo đạo Giám lý, ông vẫn cho phép bà Odessa nuôi dạy cả Cassius con (Jr.) và người em trai Rudy (sau này đổi tên thành Rahaman Ali) theo đạo Báp-tít.[9][16] Clay con theo học tại Trường Trung học Central ở Louisville và bị mắc chứng khó đọc.[17]
Ông lớn lên trong bối cảnh nạn phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ. Mẹ ông nhớ lại một lần ông bị từ chối cho uống nước tại một cửa hàng vì màu da đen của mình, và nói rằng điều đó "thực sự ảnh hưởng đến ông."[18] Ông cũng bị tác động mạnh mẽ bởi vụ sát hại Emmett Till năm 1955, và đã trút nỗi bức xúc bằng cách cùng một người bạn phá hoại một bãi đường sắt địa phương. Sau này ông nói với con gái Hana rằng: "Không điều gì từng làm cha chấn động (hơn) câu chuyện về Emmett Till."[19][20]
Sự nghiệp nghiệp dư
[sửa | sửa mã nguồn]

Clay lần đầu tiên được định hướng đến với quyền Anh bởi cảnh sát viên Louisville kiêm huấn luyện viên quyền Anh Joe E. Martin,[21] người đã gặp cậu bé 12 tuổi này đang giận dữ vì bị một tên trộm lấy mất chiếc xe đạp. Cậu nói với viên cảnh sát rằng cậu sẽ "đánh nhừ tử" (whup) tên trộm đó. Viên cảnh sát bảo Clay rằng tốt hơn hết cậu nên học cách đấm bốc trước đã.[22] Ban đầu, Clay không nhận lời đề nghị của Martin, nhưng sau khi xem các võ sĩ nghiệp dư thi đấu trên một chương trình quyền Anh của đài truyền hình địa phương có tên là Tomorrow's Champions (Những nhà vô địch tương lai), Clay bắt đầu quan tâm đến việc được thi đấu bộ môn này.[23] Sau đó, cậu bắt đầu làm việc với huấn luyện viên Fred Stoner, người mà cậu ghi nhận là đã mang lại cho cậu sự "huấn luyện thực thụ", dần dần định hình nên "phong cách, sức bền và hệ thống của tôi". Trong bốn năm cuối của sự nghiệp nghiệp dư, Clay được huấn luyện bởi Chuck Bodak.[24]
Clay có trận ra mắt quyền Anh nghiệp dư vào năm 1954 trước võ sĩ nghiệp dư địa phương Ronnie O'Keefe. Anh đã thắng bằng quyết định không đồng thuận của trọng tài.[25] Anh tiếp tục giành sáu danh hiệu Găng tay Vàng Kentucky, hai danh hiệu Găng tay Vàng Chicago, hai danh hiệu Găng tay Vàng quốc gia, hai danh hiệu quốc gia của Liên đoàn Thể thao Nghiệp dư (AAU), chiến thắng tại Vòng loại Olympic Hoa Kỳ, và huy chương vàng hạng dưới nặng tại Thế vận hội Mùa hè 1960 ở Rome.[26] Thành tích nghiệp dư của Clay là 100 thắng – 8 thua.[27] Trong cuốn tự truyện năm 1975, ông kể lại rằng ngay sau khi trở về từ Thế vận hội Rome, ông đã ném chiếc huy chương vàng của mình xuống Sông Ohio sau khi ông và một người bạn bị từ chối phục vụ tại một nhà hàng "chỉ dành cho người da trắng" và xô xát với một băng nhóm người da trắng. Câu chuyện này sau đó đã bị tranh cãi, và một số người bạn của ông, bao gồm Bundini Brown và nhiếp ảnh gia Howard Bingham, đã phủ nhận rằng đó là sự thực. Brown đã nói với cây viết Mark Kram của Sports Illustrated rằng: "Bọn da trắng (Honkies) chắc chắn đã tin sái cổ chuyện đó!" Cuốn tiểu sử về Ali của Thomas Hauser cho biết Ali đã bị từ chối phục vụ tại quán ăn nhưng ông đã tự làm mất chiếc huy chương một năm sau khi giành được nó ở Rome.[28] Ali đã nhận được chiếc huy chương thay thế tại Georgia Dome trong kỳ Thế vận hội 1996 ở Atlanta, nơi mà ông đã thắp sáng ngọn đuốc để khai mạc kỳ Thế vận hội.
Sự nghiệp chuyên nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Giai đoạn đầu sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]
Clay ra mắt quyền Anh chuyên nghiệp vào ngày 29 tháng 10 năm 1960, giành chiến thắng sau sáu hiệp trước Tunney Hunsaker. Từ đó cho đến cuối năm 1963, Clay đã tích lũy thành tích thắng-thua là 19–0 với 15 chiến thắng bằng knock-out. Ông đã đánh bại các võ sĩ bao gồm Tony Esperti, Jim Robinson, Donnie Fleeman, Alonzo Johnson, George Logan, Willi Besmanoff, LaMar Clark, Doug Jones, và Henry Cooper. Clay cũng đánh bại huấn luyện viên cũ và là võ sĩ kỳ cựu Archie Moore trong một trận đấu năm 1962.[29][30]
Những trận đấu đầu tiên này diễn ra không hề suôn sẻ. Clay từng bị cả Sonny Banks và Cooper đánh ngã. Trong trận gặp Cooper, Clay dính một cú móc trái ngã gục vào cuối hiệp bốn và chỉ thoát thua nhờ tiếng chuông báo hết hiệp. Tuy nhiên, đúng như dự đoán của mình, ông đã thắng ở hiệp năm do Cooper bị rách mắt nghiêm trọng.
Cuộc đối đầu với Doug Jones vào ngày 13 tháng 3 năm 1963 là thử thách cam go nhất của Clay trong giai đoạn này. Với tư cách là ứng cử viên hạng nặng số hai và số ba thế giới, Clay và Jones đã so găng ngay tại sân nhà của Jones ở Madison Square Garden, New York. Jones khiến Clay chao đảo ngay hiệp một, và khi trọng tài tuyên bố Clay thắng nhờ quyết định đồng thuận, khán giả đã phản đối dữ dội bằng những tiếng la ó và ném "mưa" vật thể lạ lên võ đài. Theo dõi qua hệ thống truyền hình nội bộ (closed-circuit TV), nhà vô địch hạng nặng Sonny Liston đã mỉa mai rằng nếu đấu với Clay, ông (Liston) có thể sẽ phải ngồi tù vì tội giết người. Trận đấu này sau đó được tạp chí The Ring vinh danh là "Trận đấu của năm".[31] Trong mỗi trận đấu này, Clay đều lớn tiếng hạ thấp đối thủ và khoe khoang khả năng của mình. Ông gọi Jones là "gã lùn xấu xí" và Cooper là "kẻ vô dụng" (bum). Ông nói rằng ông xấu hổ khi phải lên đài với Alex Miteff và tuyên bố rằng Madison Square Garden "quá nhỏ bé đối với tôi".[32] Những lời lẽ khiêu khích (trash talk) của Ali được lấy cảm hứng từ đô vật chuyên nghiệp "Gorgeous George" Wagner, sau khi ông thấy được khả năng ăn nói của George đã thu hút đám đông khổng lồ đến các sự kiện như thế nào.[33] Trong một cuộc phỏng vấn năm 1969, ông kể rằng ông đã gặp George ở Las Vegas vào năm 1961, George đã nói với ông rằng việc to mồm sẽ thu hút được những người hâm mộ chịu chi tiền, những người hoặc muốn thấy ông thắng hoặc muốn thấy ông thua, bởi lẽ đó Clay đã biến mình thành một kẻ mà ông tự mô tả là "to mồm và khoác lác".[34]
Năm 1960, Clay rời trại huấn luyện của Moore, một phần do Clay từ chối làm các công việc vặt như rửa bát và quét nhà. Để thay thế Moore, Clay đã thuê Angelo Dundee làm huấn luyện viên. Clay đã gặp Dundee vào tháng 2 năm 1957 trong thời gian thi đấu nghiệp dư.[35] Vào khoảng thời gian này, Clay đã tìm đến thần tượng lâu năm Sugar Ray Robinson để nhờ ông làm người quản lý, nhưng đã bị từ chối.[36]
Vô địch hạng nặng thế giới
[sửa | sửa mã nguồn]Trận đầu tiên gặp Liston
[sửa | sửa mã nguồn]
Đến cuối năm 1963, Clay đã trở thành ứng cử viên hàng đầu cho danh hiệu của Sonny Liston. Trận đấu được ấn định vào ngày 25 tháng 2 năm 1964 tại Miami Beach. Liston là một nhân vật đáng sợ, một võ sĩ áp đảo với quá khứ tội phạm và có liên hệ với các băng đảng mafia. Dựa trên màn trình diễn thiếu thuyết phục của Clay trước Jones và Cooper trong hai trận đấu trước đó, cùng với việc Liston hủy diệt cựu vô địch hạng nặng Floyd Patterson bằng hai cú knock-out ngay trong hiệp một, Clay bị đánh giá là kèo dưới với tỷ lệ 1 ăn 8 (8:1 underdog).[37] Mặc dù vậy, Clay vẫn chế nhạo Liston trong suốt quá trình chuẩn bị trước trận đấu, đặt biệt danh cho ông ta là "con gấu to xác xấu xí", tuyên bố "Liston thậm chí còn có mùi giống một con gấu" và "Tôi sẽ tặng hắn cho sở thú địa phương sau khi đánh hắn nhừ tử."[38] Clay đã biến buổi cân thử trước trận đấu thành một gánh xiếc, hét vào mặt Liston rằng "tối nay sẽ có người chết trên võ đài". Nhịp tim của Clay đo được là 120, cao hơn gấp đôi mức bình thường là 54.[37]
Kết quả của trận đấu là một cú sốc lớn. Khi tiếng chuông khai cuộc vang lên, Liston lao vào Clay, dường như Liston rất giận dữ và tìm kiếm một cú knock-out nhanh chóng. Tuy nhiên, tốc độ và sự linh hoạt vượt trội của Clay đã giúp ông né tránh được các cú đòn được Liston, khiến nhà vô địch đánh hụt và trông thật lóng ngóng. Cuối hiệp một, Clay mở đợt tấn công và liên tục đánh trúng Liston bằng những cú thọc (jab). Liston thi đấu tốt hơn ở hiệp hai, nhưng vào đầu hiệp ba, Clay đã đánh trúng Liston bằng một tổ hợp đòn khiến đầu gối ông khuỵu xuống và gây ra một vết rách dưới mắt trái. Đây là lần đầu tiên Liston bị rách da trong khi thi đấu. Vào cuối hiệp bốn, khi đang trở về góc đài của mình, Clay bắt đầu cảm thấy đau nhức đến mù lòa ở mắt và yêu cầu huấn luyện viên Angelo Dundee cắt bỏ găng tay. Dundee từ chối. Người ta đồn đoán rằng vấn đề là do loại thuốc mỡ dùng để bôi lên vết thương của Liston, có lẽ đã được đội của ông cố tình bôi lên găng tay.[37] Mặc dù chưa được xác nhận, sử gia quyền Anh Bert Sugar cho biết hai đối thủ khác của Liston cũng phàn nàn về việc mắt họ bị "bỏng rát".[39]

Bất chấp nỗ lực của Liston nhằm hạ knock-out một Clay đang bị đau mắt, Clay xoay sở cầm cự hết hiệp năm, chờ cho mồ hôi và nước mắt cuốn trôi chất lạ gây cay mắt. Ở hiệp sáu, Clay áp đảo, liên tục đấm trúng Liston. Liston đã không ra khỏi góc đài khi tiếng chuông báo hiệu hiệp bảy vang lên (bỏ cuộc), và Clay được tuyên bố là người chiến thắng bằng TKO. Liston tuyên bố lý do ông bỏ cuộc là do chấn thương vai. Ngay khi giành chiến thắng, Clay lao vụt ra mép đài trong niềm kiêu hãnh tột độ, chỉ thẳng mặt cánh phóng viên bên dưới và gào lên: 'Nuốt lại những lời đó đi!' (Eat your words!). Ông tuyên bố: 'Tôi là kẻ vĩ đại nhất! Tôi đã làm rung chuyển thế giới. Tôi là tuyệt tác đẹp đẽ nhất từng tồn tại trên đời này.'[40]
Tại khu vực cạnh võ đài ngay sau trận đấu, Clay tỏ vẻ không tin rằng trận đấu bị dừng lại do chấn thương vai của Liston, ông nói rằng chấn thương duy nhất mà Liston gặp phải là "một con mắt bị toác, một vết rách to tướng ở mắt!" Khi được Joe Louis cho biết chấn thương đó là "cánh tay trái bị trật khớp", Clay châm biếm: "Phải rồi, cứ vung tay vào hư không thì ai mà chẳng bị thế?"[41]
Với chiến thắng này ở tuổi 22, Clay trở thành võ sĩ trẻ nhất giành được đai vô địch từ một nhà đương kim vô địch hạng nặng. Tuy nhiên, Floyd Patterson vẫn là người trẻ nhất giành chức vô địch hạng nặng ở tuổi 21 trong một trận đấu loại sau khi Rocky Marciano giải nghệ. Mike Tyson đã phá vỡ cả hai kỷ lục này vào năm 1986 khi đánh bại Trevor Berbick để giành đai hạng nặng ở tuổi 20. Chiến tích này cũng đưa Clay trở thành võ sĩ giành chức vô địch (danh hiệu không bị bỏ trống) nhanh nhất trong kỷ nguyên hiện đại, chỉ sau 20 trận đấu.
Ngay sau trận đấu với Liston, Clay đổi tên thành Cassius X, và sau đó ông lại đổi tên thành Muhammad Ali khi cải đạo sang Hồi giáo và gia nhập tổ chức Nation of Islam.
Trận tái đấu với Liston
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau đó, Ali bước vào trận tái đấu với Liston, được lên lịch vào tháng 5 năm 1965 tại Lewiston, Maine. Trận đấu lẽ ra đã diễn ra tại Boston vào tháng 11 năm trước, nhưng bị hoãn lại sáu tháng do Ali phải phẫu thuật cấp cứu vì thoát vị ba ngày trước đó.[42] Trận đấu đã gây nhiều tranh cãi. Giữa hiệp một, Liston bị đánh ngã bởi một cú đấm khó nhìn thấy mà báo chí đặt biệt danh là "cú đấm bóng ma" (phantom punch). Trọng tài Jersey Joe Walcott đã không bắt đầu đếm ngay sau cú đánh ngã, vì Ali từ chối lùi về một góc đài trung lập. Liston đứng dậy sau khi đã nằm sàn khoảng 20 giây, và trận đấu tiếp tục trong chốc lát. Tuy nhiên, vài giây sau, Walcott, sau khi được các nhân viên bấm giờ thông báo rằng Liston đã nằm sàn quá 10 tiếng đếm, đã cho dừng trận đấu và tuyên bố Ali thắng bằng knock-out.[43] Toàn bộ trận đấu kéo dài chưa đầy hai phút.[44]
Về sau, dư luận dấy lên nhiều đồn đoán cho rằng Liston đã cố tình nằm sàn. Nhiều giả thuyết về động cơ của ông đã được đưa ra, bao gồm việc ông bị tổ chức Nation of Islam dọa giết, việc ông tự cá cược vào cửa thua của chính mình, hoặc ông đã chủ động "giả thua" (take a dive) để trả nợ nần. Những thước phim quay chậm cho thấy Liston quả thực đã bị choáng váng sau cú bổ phải của Ali, tuy nhiên vẫn chưa rõ liệu uy lực của cú đòn đó có đủ để tạo nên một pha knock-out thực sự hay không.[45]
Trận đấu với Patterson
[sửa | sửa mã nguồn]
Ali bước vào trận bảo vệ đai trước cựu vô địch hạng nặng Floyd Patterson vào ngày 22 tháng 11 năm 1965. Trước giờ thượng đài, Ali liên tục chế giễu Patterson — người vốn nổi tiếng vì cố chấp gọi ông bằng tên cũ Cassius Clay. Ông gọi Patterson là một gã "Chú Tom" (Uncle Tom - kẻ nịnh bợ người da trắng), và gán cho ông ta biệt danh "Con thỏ". Dù Ali hoàn toàn áp đảo một Patterson dường như đang dính chấn thương, trận đấu vẫn kéo dài tới tận 12 hiệp trước khi kết thúc bằng một quyết định knock-out kỹ thuật. Patterson sau đó tiết lộ rằng ông đã bị giãn khớp cùng chậu. Truyền thông thể thao đã chỉ trích Ali dữ dội vì cho rằng ông cố tình vờn Patterson suốt trận đấu như mèo vờn chuột.[46] Nhà viết tiểu sử của Patterson, W. K. Stratton, khẳng định mối thâm thù giữa Ali và Patterson là giả tạo. Ông cho rằng cả hai đã bắt tay nhau diễn kịch để kích cầu vé bán và thu hút khán giả xem truyền hình mạch kín. Stratton cũng dẫn lại một cuộc phỏng vấn với Howard Cosell, trong đó Ali giải thích rằng ông không hề trêu đùa, mà thực chất đã nương tay không hạ knock-out vì nhận thấy Patterson đang bị đau. Patterson sau này kể rằng ông chưa bao giờ chịu những cú đấm nào "nhẹ hều" như của Ali. Stratton cho biết Ali đã sắp xếp trận tái đấu vào năm 1972 với một Patterson đang kiệt quệ tài chính, cốt để giúp cựu vương kiếm đủ tiền trả nợ cho Sở Thuế vụ (IRS).[46]
Main Bout
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau trận đấu với Patterson, Ali thành lập công ty quảng bá của riêng mình mang tên Main Bout. Công ty chủ yếu phụ trách các hoạt động quảng bá quyền Anh cho Ali và các chương trình phát sóng truyền hình trả tiền. Các cổ đông của công ty chủ yếu là những thành viên cùng tổ chức Nation of Islam với ông, cùng với một số người khác, trong đó có Bob Arum.[48]
Ali và nhà vô địch hạng nặng lúc bấy giờ của Hiệp hội Quyền Anh Thế giới (WBA) là Ernie Terrell đã đồng ý gặp nhau trong một trận đấu tại Chicago vào ngày 29 tháng 3 năm 1966 (WBA, một trong hai hiệp hội quyền Anh lớn, hiệp hội này đã tước danh hiệu của Ali sau khi ông gia nhập Nation of Islam). Tuy nhiên, vào tháng 2, Ali bị hội đồng tuyển quân Louisville phân loại lại từ nhóm 1-Y sang 1-A, và ông đã ra dấu hiệu rằng mình sẽ từ chối nhập ngũ, khi bình luận với báo chí rằng: "Tôi chẳng có thù hằn gì với Việt Cộng cả; chưa từng có Việt Cộng nào gọi tôi là mọi đen.",[49] mặc dù vế sau của câu nói này là không có thật.[50] Giữa làn sóng phản đối dữ dội từ truyền thông và công chúng về lập trường của Ali, Ủy ban Thể thao Illinois đã từ chối cấp phép cho trận đấu, viện dẫn các lý do kỹ thuật.[51]

Thay vào đó, Ali đã đến Canada và Châu Âu để thi đấu và giành chiến thắng trong các trận tranh đai trước George Chuvalo, Henry Cooper, Brian London, và Karl Mildenberger.
Ali trở lại Hoa Kỳ để đấu với Cleveland Williams tại Astrodome ở Houston vào ngày 14 tháng 11 năm 1966. Trận đấu đã thu hút lượng khán giả trong nhà kỷ lục là 35.460 người. Williams từng được coi là một trong những tay đấm mạnh nhất ở hạng nặng, nhưng vào năm 1964, ông đã bị một cảnh sát Texas bắn ở cự ly cực gần, dẫn đến việc mất một quả thận và 3,0 mét (10 ft) ruột non. Ali hoàn toàn áp đảo Williams, giành chiến thắng knock-out kỹ thuật ở hiệp ba trong trận đấu mà một số người coi là màn trình diễn đỉnh cao nhất trong sự nghiệp của ông.

Ali đấu với Terrell tại Houston vào ngày 6 tháng 2 năm 1967. Terrell, người đã bất bại trong năm năm và từng đánh bại nhiều võ sĩ mà Ali đã đối đầu, được coi là đối thủ khó nhằn nhất của Ali kể từ Liston; Terrell to lớn, khỏe mạnh và có lợi thế sải tay dài hơn Ali ba inch (khoảng 7,6 cm). Trong giai đoạn chuẩn bị cho trận đấu, Terrell liên tục gọi Ali là "Clay", khiến Ali vô cùng tức giận. Cả hai suýt nữa đã xô xát vì vấn đề tên gọi trong một cuộc phỏng vấn trước trận đấu với Howard Cosell. Ali dường như quyết tâm làm nhục Terrell. "Tôi muốn tra tấn hắn", ông nói. "Một cú knock-out gọn gàng là quá tốt cho hắn."[52] Trận đấu diễn ra cân bằng cho đến hiệp bảy, khi Ali đánh Terrell chảy máu và suýt hạ knock-out đối thủ. Trong hiệp tám, Ali chế nhạo Terrell, vừa tung những cú thọc vừa hét lên giữa các đòn đánh: "Tên tao là gì, hả Chú Tom... tên tao là gì?" Ali giành chiến thắng bằng quyết định đồng thuận của trọng tài sau 15 hiệp đấu. Terrell tuyên bố rằng đầu trận đấu Ali đã cố tình chọc ngón tay cái vào mắt ông, buộc ông phải thi đấu trong tình trạng nửa mù, và sau đó, trong một pha ôm khóa, đã chà xát con mắt bị thương vào dây đài. Do Ali rõ ràng có ý định kéo dài trận đấu để trừng phạt đối thủ tối đa, các nhà phê bình mô tả trận đấu là "một trong những trận quyền Anh xấu xí nhất". Tex Maule sau đó đã viết: "Đó là một màn trình diễn kỹ năng quyền Anh tuyệt vời và một sự phô trương sự tàn nhẫn đầy man rợ." Ali phủ nhận các cáo buộc về sự tàn nhẫn nhưng đối với những người chỉ trích Ali, trận đấu đã cung cấp thêm bằng chứng về sự kiêu ngạo của ông.
Sau trận bảo vệ đai của Ali trước Zora Folley vào ngày 22 tháng 3, ông đã bị tước danh hiệu do từ chối nhập ngũ.[8] Giấy phép thi đấu quyền Anh của ông cũng bị bang New York đình chỉ. Ông bị kết tội trốn nghĩa vụ quân sự vào ngày 20 tháng 6 và bị kết án 5 năm tù cùng khoản tiền phạt 10.000 đô la. Ông đã nộp tiền bảo lãnh và được tự do trong khi chờ kháng cáo bản án.
Phản đối nhập ngũ
[sửa | sửa mã nguồn]—Muhammad Ali nói trước đám đông sinh viên đại học trong thời gian bị cấm thi đấu quyền Anh[53]
Ali đăng ký nghĩa vụ quân sự vào sinh nhật lần thứ 18 của mình và được xếp loại 1-A (đủ tiêu chuẩn nhập ngũ) vào năm 1962.[54] Năm 1964, ông được phân loại lại thành Class 1-Y (chỉ đủ tiêu chuẩn phục vụ trong trường hợp khẩn cấp quốc gia) sau khi trượt bài kiểm tra năng lực của Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ vì kỹ năng viết và đánh vần dưới mức tiêu chuẩn,[55] do ông mắc chứng khó đọc.[17] (Ông từng tuyên bố rằng: "Tôi đã nói tôi là người vĩ đại nhất, chứ không phải người thông minh nhất!"[54][56]) Đến đầu năm 1966, quân đội hạ thấp tiêu chuẩn để cho phép tuyển những người lính có điểm số trên bách phân vị thứ 15 và Ali lại được xếp loại 1-A.[8][54][56] Việc phân loại này đồng nghĩa với việc giờ đây ông đủ điều kiện để bị gọi nhập ngũ vào Quân đội Hoa Kỳ vào thời điểm Hoa Kỳ đang tham chiến trong Chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến càng đẩy ông vào thế đối đầu với giới cầm quyền da trắng.[57]

Khi được thông báo về tình trạng này, Ali tuyên bố rằng ông sẽ từ chối phục vụ trong quân đội và công khai coi mình là một người từ chối nhập ngũ vì lương tâm.[8] Ali tuyên bố: "Chiến tranh là đi ngược lại những lời dạy của Kinh Qur'an. Tôi không cố trốn nghĩa vụ quân sự. Nhưng chúng tôi không được phép tham gia vào bất kỳ cuộc chiến nào trừ khi được Allah hoặc Sứ giả tuyên bố. Chúng tôi không tham gia vào các cuộc chiến của người Kitô giáo hay các cuộc chiến của bất kỳ kẻ ngoại đạo nào".[58] Ông cũng nói: "Chúng tôi không được phép là kẻ xâm lược nhưng chúng tôi sẽ tự vệ nếu bị tấn công." Ông khẳng định: "Này anh bạn, tôi chẳng có thù hằn gì với mấy người Việt Cộng cả."[59] Ali giải thích rõ hơn: "Tại sao họ lại yêu cầu tôi mặc quân phục và đi xa vạn dặm để thả bom và đạn lên đầu những người Việt Nam trong khi những người da đen ở Louisville đang bị đối xử như những con chó và bị từ chối những quyền con người cơ bản nhất?"[60][18][57][61][62]
Vào ngày 28 tháng 4 năm 1967, Ali có mặt tại Houston để thực hiện thủ tục nhập ngũ vào Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ theo lịch trình, nhưng ông đã đã ba lần từ chối bước lên phía trước khi tên mình được gọi. Một sĩ quan cảnh báo ông rằng ông đang phạm một trọng tội với mức án phạt có thể lên tới 5 năm tù giam và khoản tiền phạt 10.000 đô la. Một lần nữa, Ali vẫn đứng bất động khi tên mình được gọi, và ông đã bị bắt giữ. Ngay cuối ngày hôm đó, Ủy ban Thể thao Bang New York đã đình chỉ giấy phép thi đấu quyền Anh của ông và Hiệp hội Quyền Anh Thế giới (WBA) đã tước danh hiệu vô địch của ông.[63] Các ủy ban quyền Anh khác cũng có động thái tương tự. Ali không thể xin được giấy phép thi đấu ở bất kỳ tiểu bang nào trong hơn ba năm.[64][cần số trang] Vào ngày 4 tháng 6 năm 1967, trong một sự kiện chưa từng có đối với giới thể thao chuyên nghiệp, một nhóm các vận động viên người Mỹ gốc Phi nổi tiếng—bao gồm Jim Brown, Bill Russell, và Kareem Abdul-Jabbar, cũng như một nhà lãnh đạo chính trị là Carl Stokes—đã tập hợp cùng Ali tại Liên minh Kinh tế Công nghiệp Da đen ở Cleveland. Sự kiện này sau đó được biết đến với tên gọi "Hội nghị Cleveland" (Cleveland Summit) hay "Hội nghị Muhammad Ali". Cuộc gặp gỡ được Brown tổ chức để các đồng nghiệp chất vấn Ali về mức độ nghiêm túc trong niềm tin của ông, và để quyết định xem có nên ủng hộ ông hay không. Cuối cùng họ đã quyết định đứng về phía ông.[65]
Tại phiên tòa ngày 20 tháng 6 năm 1967, chỉ sau 21 phút nghị án, bồi thẩm đoàn đã tuyên Ali có tội về hành vi vi phạm luật Nghĩa vụ Quân sự do từ chối nhập ngũ.[8] Sau khi Tòa Phúc thẩm giữ nguyên bản án, vụ việc đã được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét vào năm 1971.[67]
Ali vẫn được tự do trong những năm chờ đợi giữa phán quyết của Tòa Phúc thẩm và phán quyết của Tòa án Tối cao. Khi dư luận bắt đầu quay lưng lại với cuộc chiến và Phong trào Dân quyền tiếp tục đà lớn mạnh, Ali trở thành một diễn giả nổi tiếng tại các trường cao đẳng và đại học trên khắp đất nước; lịch trình này là hiếm thấy nếu không muốn nói là chưa từng có đối với một võ sĩ chuyên nghiệp. Ví dụ, tại Đại học Howard, ông ta đã có bài phát biểu nổi tiếng "Da đen là tuyệt nhất" (Black Is Best) trước 4.000 sinh viên và trí thức cộng đồng đang hò reo, sau khi được giáo sư xã hội học Nathan Hare mời phát biểu thay mặt cho Ủy ban Quyền lực Da đen, một nhóm sinh viên phản kháng.[68]
Vào ngày 28 tháng 6 năm 1971, trong vụ án Clay v. United States, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã hủy bỏ bản án của Ali với quyết định đồng thuận tuyệt đối 8–0 (Thẩm phán Thurgood Marshall đã tự rút lui khỏi vụ án vì ông từng giữ chức Tổng Cố vấn Pháp luật vào thời điểm Ali bị kết án).[69] Quyết định này không dựa trên, cũng như không giải quyết trực tiếp giá trị nội dung trong các yêu cầu của Ali. Thay vào đó, Tòa án phán quyết rằng vì hội đồng phúc thẩm đã không đưa ra lý do cho việc từ chối quyền miễn trừ vì lương tâm của Ali, nên không thể xác định hội đồng phúc thẩm đã dựa vào tiêu chuẩn nào trong ba tiêu chuẩn cơ bản về tư cách người từ chối nhập ngũ vì lương tâm (do Bộ Tư pháp đưa ra trong hồ sơ), và do đó bản án của Ali phải bị hủy bỏ.[70]
Trong một cuộc phỏng vấn năm 1974, Ali nói: "Nếu họ bảo tôi đứng nghiêm và chào cờ, tôi sẽ làm điều đó vì sự tôn trọng, bởi vì tôi đang sống ở đất nước này".[71] Sau này, Ali chia sẻ thêm: "Nếu nước Mỹ gặp lâm nguy và chiến tranh thực sự nổ ra, tôi sẽ đứng ở tuyến đầu nếu chúng ta bị tấn công. Nhưng tôi có thể thấy rằng cuộc chiến đó [Chiến tranh Việt Nam] là không đúng đắn."[72] Ông cũng nói: "Những người đàn ông da đen sang bên đó chiến đấu, nhưng khi trở về nhà, họ thậm chí còn không được phục vụ một chiếc bánh hamburger."[73]
Tác động từ việc Ali từ chối nhập ngũ
[sửa | sửa mã nguồn]Tấm gương của Ali đã truyền cảm hứng cho nhiều người Mỹ gốc Phi và những người khác. Tuy nhiên, ban đầu khi từ chối nhập ngũ, ông đã trở thành người đàn ông bị ghét bỏ nhất cả nước và nhận được nhiều lời dọa giết. Những người ủng hộ Ali trong thời gian này cũng bị đe dọa, bao gồm nhà báo thể thao Jerry Izenberg, người có các bài viết bảo vệ quyết định không phục vụ quân đội của Ali. Ông viết: "Những lời đe dọa đánh bom đã khiến văn phòng của chúng tôi trống trơn, buộc nhân viên phải đứng ngoài trời tuyết. Kính chắn gió xe hơi của tôi đã bị đập nát bằng búa tạ."[74][75] Cây bút William Rhoden của tờ The New York Times viết: "Hành động của Ali đã thay đổi tiêu chuẩn của tôi về sự vĩ đại của một vận động viên. Sở hữu một cú ném rổ sát thủ hay khả năng xử lý tình huống nhanh nhạy là chưa đủ. Bạn đã làm gì cho sự giải phóng của dân tộc mình? Bạn đã làm gì để giúp đất nước mình sống đúng với cam kết của những nguyên tắc lập quốc?"[62]
Nhớ lại lập trường phản chiến của Ali, cựu cầu thủ bóng rổ Kareem Abdul-Jabbar nói: "Tôi nhớ các giáo viên ở trường trung học của tôi không thích Ali vì ông ấy quá chống đối chính quyền, ông ấy kiểu như đã bỡn cợt với chính quyền và vẫn bình an vô sự. Việc ông ấy tự hào là một người đàn ông da đen và việc ông ấy có quá nhiều tài năng ... khiến một số người nghĩ rằng ông ấy nguy hiểm. Nhưng chính vì những lý do đó mà tôi thích ông ấy."[76]
Các nhân vật đấu tranh cho quyền công dân dần tin rằng Ali đã tạo ra một hiệu ứng tiếp thêm sinh lực cho phong trào tự do nói chung. Al Sharpton đã nói về sự dũng cảm của ông vào thời điểm mà sự ủng hộ dành cho Chiến tranh Việt Nam vẫn còn lan rộng:
Đối với nhà vô địch hạng nặng thế giới, người đã đạt đến đỉnh cao danh vọng thể thao, việc đem tất cả những thứ đó ra đánh cược—tiền bạc, khả năng nhận các hợp đồng quảng cáo—việc hy sinh tất cả những điều đó vì một lý tưởng, đã mang lại một cảm giác chính danh to lớn cho phong trào và các lý tưởng trong giới trẻ mà không gì khác có thể làm được. Ngay cả những người bị ám sát, chắc chắn họ đã mất mạng, nhưng họ không tự nguyện làm điều đó. Ông ấy biết mình sẽ phải vào tù và vẫn làm điều đó. Đó là một đẳng cấp khác của sự lãnh đạo và hy sinh.[77]
— AI Sharpton
Ali đã được vinh danh với Giải thưởng Martin Luther King thường niên vào năm 1970 bởi nhà lãnh đạo quyền công dân Ralph Abernathy, người gọi ông là "một ví dụ sống động về sức mạnh tâm hồn, là cuộc Tuần hành đến Washington gói gọn trong hai nắm đấm". Coretta Scott King nói thêm rằng Ali là "một nhà vô địch của công lý, hòa bình và đoàn kết".[78]
Khi nói về cái giá mà sự nghiệp của Ali phải trả do từ chối nhập ngũ, huấn luyện viên Angelo Dundee nhận định: "Một điều cần phải khắc cốt ghi tâm khi nhắc đến Ali: Ông ấy đã bị tước đoạt những năm tháng đẹp nhất, những năm tháng sung sức nhất của đời võ sĩ."[79] Ông bầu của Ali, Bob Arum, thời điểm đó đã không ủng hộ quyết định của ông, nhưng vào năm 2016, Arum bày tỏ: "khi nhìn lại cuộc đời ông ấy, và tôi thật diễm phúc khi được gọi ông là bạn cũng như dành nhiều thời gian bên ông, tôi thấy thật khó để bàn về những chiến công trên võ đài của ông. Bởi lẽ, dù những chiến tích ấy vĩ đại đến đâu, chúng vẫn trở nên lu mờ khi so sánh với tầm ảnh hưởng mà ông đã tạo ra cho thế giới... Ông ấy đã làm điều mà ông cho là đúng. Và hóa ra ông ấy đã đúng, còn tôi mới là người sai."[80]
Cuộc đấu tranh chống lại lệnh nhập ngũ của Ali đã được đề cập trong bộ phim tài liệu năm 2013 mang tên The Trials of Muhammad Ali.[81]
Lưu vong và sự trở lại
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 3 năm 1966, Ali từ chối nhập ngũ vào lực lượng vũ trang. Ông bị từ chối cấp giấy phép thi đấu quyền Anh một cách có hệ thống ở mọi tiểu bang và bị tịch thu hộ chiếu. Kết quả là, ông không thi đấu từ tháng 3 năm 1967 đến tháng 10 năm 1970 cho đến khi bản án của ông bị hủy bỏ vào năm 1971.
Phản kháng trong thời gian lưu vong
[sửa | sửa mã nguồn]Trong khoảng thời gian không thi đấu này, khi làn sóng phản đối Chiến tranh Việt Nam bắt đầu gia tăng và lập trường của Ali nhận được sự cảm thông, ông đã đi diễn thuyết tại các trường đại học trên khắp cả nước, chỉ trích Chiến tranh Việt Nam và ủng hộ niềm tự hào của người Mỹ gốc Phi cũng như công lý chủng tộc. Ali chọn Chicago làm nơi sinh sống.[82] Theo hầu hết những người thân cận với ông, những năm tháng ở Chicago là giai đoạn định hình nên con người ông.
Vào thời điểm đó, Ali bị truyền thông Mỹ lên án rộng rãi,[83] với những lo ngại rằng hành động của ông có thể dẫn đến tình trạng bất tuân dân sự hàng loạt.[84] Bất chấp điều này, tạp chí Ebony ghi nhận vào cuối những năm 1960 rằng sự nổi tiếng của Ali đã tăng lên trong thời gian này, đặc biệt là trong cộng đồng người da đen.[85]
The Super Fight
[sửa | sửa mã nguồn]Trong khi bị cấm tham gia các trận đấu chính thức, Ali đã dàn xếp một vụ kiện trị giá 1 triệu đô la chống lại nhà sản xuất phát thanh Murray Woroner bằng cách chấp nhận 10.000 đô la để xuất hiện trong một trận đấu giả tưởng được dàn dựng riêng tư với nhà vô địch đã giải nghệ Rocky Marciano.[86] Năm 1969, hai võ sĩ được quay phim cảnh đấu tập trong khoảng 75 hiệp, mỗi hiệp một phút; họ đã tạo ra nhiều kết quả tiềm năng khác nhau.[87] Một chương trình máy tính được cho là đã xác định người chiến thắng dựa trên dữ liệu về các võ sĩ, cùng với ý kiến của khoảng 250 chuyên gia quyền Anh. Các phiên bản biên tập của trận đấu đã được chiếu tại các rạp chiếu phim vào năm 1970. Trong phiên bản chiếu tại Mỹ, Ali thua bằng một cú knock-out mô phỏng ở hiệp 13, nhưng trong phiên bản chiếu tại châu Âu, Marciano thua do các vết rách, cũng là kết quả mô phỏng.[88]
Sự trở lại
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 11 tháng 8 năm 1970, khi vụ án của ông vẫn đang trong quá trình kháng cáo, Ali đã được Ủy ban Thể thao Thành phố Atlanta cấp giấy phép thi đấu quyền Anh. Leroy Johnson, Jesse Hill Jr. và Harry Pett đã sử dụng ảnh hưởng chính trị địa phương của họ và thành lập công ty House of Sports để tổ chức trận đấu, qua đó làm nổi bật sức mạnh ảnh hưởng của chính trị người da đen tại Georgia trong sự trở lại của Ali.[89] Trận tái xuất đầu tiên của Ali là trước Jerry Quarry vào ngày 26 tháng 10, kết thúc bằng một chiến thắng của Ali sau ba hiệp đấu do Quarry bị rách da.
Một tháng trước đó, một thắng lợi tại tòa án liên bang đã buộc Ủy ban Quyền Anh Bang New York phải khôi phục giấy phép thi đấu cho Ali.[90] Ông đã đấu với Oscar Bonavena tại Madison Square Garden vào tháng 12, một màn trình diễn thiếu cảm hứng nhưng đã kết thúc bằng một cú knock-out kỹ thuật đầy kịch tính trước Bonavena ở hiệp thứ 15. Chiến thắng này đã đưa Ali trở thành ứng cử viên hàng đầu để thách đấu nhà vô địch hạng nặng Joe Frazier.[91][92][93]
Trận đấu với Joe Frazier
[sửa | sửa mã nguồn]
Trận đấu đầu tiên giữa Ali và Frazier, được tổ chức tại Madison Square Garden, diễn ra vào ngày 8 tháng 3 năm 1971, trong khi đơn kháng cáo lên Tòa án Tối cao của Ali vẫn đang chờ giải quyết. Nó được mệnh danh là "Trận đấu Thế kỷ" (Fight of the Century) do sự phấn khích tột độ bao trùm màn so găng giữa hai võ sĩ bất bại, mỗi người đều có lý do chính đáng để tuyên bố mình là nhà vô địch hạng nặng. Cây viết quyền Anh kỳ cựu của Mỹ John Condon gọi đây là "sự kiện vĩ đại nhất mà tôi từng tham gia trong đời." Trận đấu được phát sóng tới 36 quốc gia; các nhà tổ chức đã cấp 760 thẻ báo chí.[28]
Góp phần làm nóng bầu không khí là những màn kịch nghệ và lời qua tiếng lại đáng kể trước trận đấu. Trước khi thượng đài, Frazier gọi Ali là "Cassius Clay", điều này đã chọc giận Ali và ông đáp trả bằng cách gọi Frazier là "công cụ ngu ngốc của giới cầm quyền da trắng", đồng thời nói rằng "Frazier quá xấu xí để làm nhà vô địch. Frazier quá ngu ngốc để làm nhà vô địch." Ali cũng thường xuyên gọi Frazier là "Chú Tom". Dave Wolf, người làm việc trong trại huấn luyện của Frazier, nhớ lại rằng "Ali đã nói 'những người duy nhất ủng hộ Joe Frazier là những người da trắng mặc vest, cảnh sát trưởng Alabama và thành viên của Ku Klux Klan. Tôi đang chiến đấu cho những người dân thường trong khu ổ chuột.' Joe ngồi đó, đấm tay vào lòng bàn tay, nói, 'Nó thì biết cái đ*o gì về khu ổ chuột cơ chứ?'"[28]
Ali bắt đầu tập luyện tại một trang trại gần Reading, Pennsylvania, vào năm 1971 và vì thấy khung cảnh đồng quê hợp với sở thích của mình, ông đã tìm cách xây dựng một trại huấn luyện thực thụ ở vùng nông thôn. Ông tìm thấy một khu đất rộng 5 mẫu Anh trên một con đường quê ở làng Deer Lake, Pennsylvania. Tại nơi này, Ali đã gầy dựng nên trại huấn luyện của riêng mình, nơi ông tập luyện cho tất cả các trận đấu từ năm 1972 đến cuối sự nghiệp vào năm 1981. Màn so găng tối thứ Hai đã diễn ra đúng như kỳ vọng. Như một lời báo hiệu cho những cuộc đối đầu nảy lửa sau này, Frazier với lối đánh áp sát lì lợm, liên tục ngụp lặn và lắc người né đòn, đã gây sức ép nghẹt thở lên Ali. Dù dính nhiều cú thọc và đòn tổ hợp của Ali, Frazier vẫn miệt mài tấn công và ghi điểm liên tục, đặc biệt là vào vùng bụng. Thế trận diễn ra giằng co trong những hiệp đầu, nhưng Ali đã phải hứng chịu cơn mưa đòn khủng khiếp nhất trong sự nghiệp tính đến lúc đó. Đôi lúc ở các hiệp đầu, ông vẫn giở thói trêu chọc khán giả và lắc đầu quầy quậy mỗi khi bị đánh trúng. Nhưng về những hiệp sau—đánh dấu sự ra đời của chiến thuật "rope-a-dope" (tựa dây nhử đòn)—Ali lùi về dựa lưng vào dây đài để mặc cho Frazier đấm, hòng làm đối thủ kiệt sức. Ở hiệp 11, Frazier tung một cú móc trái khiến Ali lảo đảo. Tuy nhiên, tưởng rằng Ali đang diễn trò hề khi thấy ông loạng choạng lùi sang phía bên kia đài, Frazier đã chần chừ không dấn tới dứt điểm vì sợ dính đòn hồi mã thương. Đến hiệp cuối cùng, Frazier đánh gục Ali bằng một cú móc trái tàn khốc, cú đấm mà trọng tài Arthur Mercante Sr. mô tả là mạnh tới mức tối đa mà một con người có thể chịu đựng. Ali gượng dậy được sau ba giây, nhưng rốt cuộc ông vẫn thất bại bằng quyết định đồng thuận. Đây là trận thua chuyên nghiệp đầu tiên trong đời ông.
Sau thất bại
[sửa | sửa mã nguồn]Lời thách đấu của Chamberlain và trận đấu với Ellis
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1971, ngôi sao bóng rổ Wilt Chamberlain đã thách đấu Ali, và một trận đấu đã được lên lịch vào ngày 26 tháng 7. Mặc dù Chamberlain cao 7 foot 1 inch (khoảng 2,16 m) sở hữu những lợi thế thể hình đáng gờm so với Ali—nặng hơn 60 pound (khoảng 27 kg) và sải tay dài hơn 14 inch (khoảng 36 cm)—Ali vẫn tác động khiến Chamberlain phải hủy bỏ trận đấu bằng cách chế nhạo đối thủ với những tiếng hô "Cây đổ!" (Timber!) và "Cái cây này sắp đổ rồi" trong một cuộc phỏng vấn chung. Sự tự tin này đã làm Chamberlain phải dao động. Ông chủ đội Los Angeles Lakers là Jack Kent Cooke trước đó đã đề nghị Chamberlain một bản hợp đồng kỷ lục, với điều kiện ông phải đồng ý từ bỏ cái mà Cooke gọi là "trò đấm bốc ngớ ngẩn này",[94] và Chamberlain đã làm đúng như vậy.[95]
Trong khi đó, vào ngày 28 tháng 6 năm 1971, Tòa án Tối cao đã hủy bỏ bản án trốn nghĩa vụ quân sự của Ali. Để thay thế đối thủ của Ali, ông bầu Bob Arum đã nhanh chóng sắp xếp Jimmy Ellis, một bạn tập cũ và là người bạn thời thơ ấu của Ali từ Louisville, Kentucky, để đấu với ông. Ali giành chiến thắng bằng knock-out kỹ thuật khi trọng tài cho dừng trận đấu ở hiệp thứ mười hai.[96]
Các trận đấu với Quarry, Patterson, Foster, Bugner và Norton
[sửa | sửa mã nguồn]Sau trận đấu với Ellis, Ali đấu với Jerry Quarry, trước khi có trận tái đấu với Floyd Patterso rồi chạm trán Bob Foster vào năm 1972, thắng tổng cộng sáu trận trong năm đó. Trong hai trận đấu vào năm 1973 với Joe Bugner và Ken Norton, ông đã mặc chiếc áo choàng "Sự lựa chọn của công chúng" (People's Choice) do Elvis Presley tặng. Những năm sau này, Ali tiết lộ rằng Elvis đã trở thành một trong những người bạn "thân thiết, riêng tư" của ông.[97][98] Năm 1973, trước trận đấu với Norton, Tom Cushman, một cây bút quyền Anh của tờ Philadelphia Daily News, nhận xét Ali đã "tự tin thái quá một cách ngạo nghễ" và không coi Norton là "mối đe dọa nào cả".[99] Tuy nhiên trong trận đấu, dù là ở hiệp hai theo phần lớn báo chí đưa tin, hay ở hiệp cuối theo lời Norton, Norton đã đấm vỡ hàm Ali và gây ra thất bại thứ hai trong sự nghiệp của ông.[99] Sau khi cân nhắc việc giải nghệ, Ali đã giành chiến thắng điểm số gây tranh cãi trước Norton trong trận tái đấu.[cần dẫn nguồn] Chiến thắng này dẫn đến trận tái đấu với Joe Frazier tại Madison Square Garden vào ngày 28 tháng 1 năm 1974; Frazier trước đó vừa mới mất đai vô địch vào tay George Foreman.
Trận đấu thứ hai với Joe Frazier
[sửa | sửa mã nguồn]
Ali thi đấu đầy sức mạnh trong những hiệp đầu và đã khiến Frazier loạng choạng ở hiệp hai. Trọng tài Tony Perez đã nghe nhầm tiếng chuông kết thúc hiệp đấu và can thiệp vào giữa hai võ sĩ đúng lúc Ali đang dồn ép tấn công, vô tình giúp Frazier có thời gian hồi phục. Tuy nhiên, Frazier đã vùng lên mạnh mẽ ở các hiệp giữa trận, tung cú đấm làm đầu Ali giật mạnh về sau trong hiệp bảy và dồn ép ông vào dây đài ở cuối hiệp tám. Bốn hiệp cuối chứng kiến thế trận đảo chiều qua từng hiệp giữa hai võ sĩ. Dù vậy, trong phần lớn thời gian trận đấu, Ali đã thành công trong việc di chuyển vòng quanh để né cú móc trái nguy hiểm của Frazier và chủ động ôm khóa đối thủ mỗi khi bị dồn vào góc đài—chiến thuật này (ôm khóa) đã bị phía Frazier phàn nàn kịch liệt. Các giám định cuối cùng đã chấm Ali chiến thắng bằng quyết định đồng thuận.
Vô địch hạng nặng thế giới (Triều đại thứ hai)
[sửa | sửa mã nguồn]Đại chiến trong rừng thẳm
[sửa | sửa mã nguồn]
Chiến thắng trước Frazier đã mở đường cho trận tranh đai với nhà vô địch hạng nặng George Foreman tại Kinshasa, Zaire, vào ngày 30 tháng 10 năm 1974—trận đấu được đặt biệt danh là The Rumble in the Jungle (Đại chiến trong rừng thẳm). Foreman được coi là một trong những tay đấm có lực đấm mạnh nhất trong lịch sử hạng nặng. Khi đánh giá tương quan trận đấu, các nhà phân tích chỉ ra rằng cả Joe Frazier và Ken Norton—những người đã buộc Ali phải trải qua bốn trận khổ chiến và thắng hai trong số đó—cả hai đều đã bị Foreman hủy diệt bằng knock-out chỉ sau hai hiệp. Ali lúc này đã 32 tuổi, tốc độ và phản xạ đã không còn như thời tuổi đôi mươi. Trái ngược với hình ảnh hòa nhã sau này, Foreman vào thời điểm đó là một sự hiện diện lầm lì và đáng sợ. Gần như không một ai trong giới thể thao, ngay cả người ủng hộ lâu năm của Ali là Howard Cosell, nghĩ rằng Ali có thể đánh bại Foreman.[100]
Như thường lệ, Ali tỏ ra đầy tự tin và màu mè trước trận đấu. Ông nói với người phỏng vấn David Frost: "Nếu anh nghĩ thế giới đã bất ngờ khi Nixon từ chức, hãy đợi đến lúc tôi đánh cho Foreman nhừ tử!".[101] Ông tuyên bố với báo giới bằng những vần thơ: "Tôi đã làm một điều mới mẻ cho trận này. Tôi vật nhau với cá sấu, đấu tay đôi với cá voi; còng tay tia chớp, tống giam sấm sét; mới tuần trước, tôi đập chết tảng đá, đả thương viên sỏi, cho viên gạch nhập viện; tôi dữ dằn đến độ làm thuốc thang cũng phải phát bệnh."[102] Ali được yêu mến cuồng nhiệt tại Zaire, với những đám đông hô vang "Ali, bomaye" ("Ali, giết hắn đi") bất cứ nơi nào ông đặt chân đến.
Ali khai màn trận đấu bằng lối di chuyển linh hoạt và ghi điểm bằng những cú đấm thẳng tay phải vào đầu Foreman. Tuy nhiên, bắt đầu từ hiệp hai, trước sự sửng sốt tột độ của ban huấn luyện, Ali lùi về tựa vào dây đài và mời gọi Foreman tấn công, trong khi bản thân thì lo che chắn, ôm khóa và phản đòn, đồng thời liên tục dùng lời lẽ khiêu khích đối thủ. Chiến thuật này—sau này nổi tiếng với tên gọi "Rope-a-dope" (tựa dây nhử đòn)—đã đi ngược lại mọi nguyên tắc quyền Anh thông thường: để cho một trong những tay đấm mạnh nhất lịch sử thoải mái ra đòn. Nó lạ lùng đến mức nhà văn George Plimpton ngồi cạnh võ đài đã nghĩ rằng trận đấu bị dàn xếp (bán độ).[28] Foreman, ngày càng điên tiết, liên tục tung ra những cú đấm nhưng đều bị cản lại hoặc không trúng vào những vị trí hiểm yếu của Ali. Đến giữa trận đấu, khi Foreman bắt đầu xuống sức, Ali vắt đầu phản công thường xuyên và hiệu quả hơn bằng những cú đấm đơn và các loạt đòn liên hoàn, khiến đám đông ủng hộ ông phấn khích tột độ. Ở hiệp thứ tám, Ali đánh gục một Foreman đã kiệt sức bằng một tổ hợp đòn ngay giữa võ đài; Foreman đã không thể gượng dậy trước khi trọng tài đếm đến mười. Bất chấp mọi dự đoán, và giữa sự vỡ òa hỗn loạn trên võ đài, Ali đã giành lại đai vô địch bằng chiến thắng knock-out. Nhớ lại trận đấu, George Foreman sau này kể: "Tôi cứ ngỡ Ali chỉ là một nạn nhân knock-out nữa của mình, cho đến khoảng hiệp bảy, tôi đấm một cú cực mạnh vào hàm hắn, thế mà hắn lại ôm lấy tôi và thì thầm vào tai: 'Mày chỉ có thế thôi sao, George?' Lúc đó tôi mới nhận ra mọi chuyện không hề như tôi nghĩ."[103]

Đó là một chiến thắng gây chấn động lớn,[104] bởi Ali bước vào trận đấu ở thế kèo dưới với tỷ lệ cược 1 ăn 4 trước một Foreman chưa từng nếm mùi thất bại và sở hữu những cú đấm sấm sét.[105] Trận đấu đã trở nên nổi tiếng nhờ việc Ali lần đầu tiên áp dụng chiến thuật "dựa dây nhử đòn" (rope-a-dope).[106] Sự kiện này đã thu hút lượng khán giả truyền hình kỷ lục ước tính lên tới 1 tỷ người xem trên toàn thế giới.[107][108]
Các trận đấu với Wepner, Lyle và Bugner
[sửa | sửa mã nguồn]Các đối thủ tiếp theo của Ali bao gồm Chuck Wepner, Ron Lyle, và Joe Bugner. Wepner, một võ sĩ tầm trung (journeyman) được biết đến với biệt danh "Gã đổ máu vùng Bayonne" (The Bayonne Bleeder), đã làm Ali choáng váng với một cú đánh ngã ở hiệp chín; Ali sau này nói rằng ông đã bị vấp vào chân của Wepner. Trận đấu này đã truyền cảm hứng cho Sylvester Stallone tạo ra bộ phim vang danh Rocky.[109]
Trận đấu thứ ba với Joe Frazier
[sửa | sửa mã nguồn]Sau đó, Ali đồng ý đấu trận thứ ba với Joe Frazier tại Manila. Trận đấu, được biết đến với tên gọi "Thrilla in Manila" (Kịch chiến tại Manila), được tổ chức vào ngày 1 tháng 10 năm 1975,[8] trong điều kiện nhiệt độ lên tới gần 100 °F (38 °C). Trong những hiệp đầu, Ali thi đấu hung hăng, di chuyển nhiều và trao đổi đòn liên tục với Frazier. Tuy nhiên, Ali sớm tỏ ra xuống sức và áp dụng chiến thuật "tựa dây nhử đòn" (rope-a-dope), thường xuyên sử dụng các kỹ thuật ôm khóa . Trong giai đoạn này của trận đấu, Ali đã thực hiện một số pha phản đòn hiệu quả, nhưng phần lớn thời gian ông phải hứng chịu những đòn trừng phạt từ một Frazier tấn công không ngừng nghỉ. Ở hiệp 12, Frazier bắt đầu thấm mệt, và Ali tung ra nhiều cú đấm sắc bén khiến mắt trái của Frazier sưng húp và làm rách da trên mắt phải. Khi thị lực của Frazier đã bị suy giảm, Ali áp đảo hoàn toàn trong hiệp 13 và 14, có những lúc ông thực hiện cái mà sử gia quyền Anh Mike Silver gọi là "tập bắn bia" lên đầu Frazier. Trận đấu bị dừng lại khi huấn luyện viên của Frazier, Eddie Futch, từ chối cho phép Frazier ra thi đấu hiệp thứ 15 và cũng là hiệp cuối cùng, bất chấp sự phản đối của Frazier. Cả hai mắt của Frazier lúc đó đều đã sưng húp không thể mở được. Ali, người chiến thắng bằng TKO, ngồi gục xuống ghế ở góc đài của mình, kiệt sức hoàn toàn.
Một Ali đầy đau đớn sau đó nói rằng trận đấu này "là trải nghiệm gần cái chết nhất mà tôi biết", và khi được hỏi liệu ông có xem lại băng ghi hình trận đấu hay không, ông được cho là đã nói: "Tại sao tôi lại muốn quay lại và chiêm ngưỡng Địa ngục chứ?" Sau trận đấu, ông ca ngợi Frazier là "võ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại, chỉ sau tôi".
Sau trận thứ ba với Frazier, Ali đã cân nhắc đến việc giải nghệ. Ông nói: "Tôi đau nhức toàn thân. Cánh tay, khuôn mặt, hai bên sườn tôi đều đau buốt. Tôi quá, quá mệt mỏi rồi. Có khả năng rất lớn là tôi sẽ giải nghệ. Các bạn có thể đã nhìn thấy tôi lần cuối cùng. Tôi muốn lui về, ngồi đếm tiền, sống trong ngôi nhà và trang trại của mình, làm việc vì dân tộc mình và tập trung vào gia đình."[110]
Giai đoạn cuối sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào ngày 2 tháng 2 năm 1976, Ali đánh bại Jean-Pierre Coopman bằng cú knock-out ở hiệp 5. Đai Vô địch Hạng nặng WBC không được đem ra tranh chấp trong trận đấu này. Ngày 30 tháng 4 năm 1976, Ali đấu với Jimmy Young và giành chiến thắng đồng thuận đầy tranh cãi. Howard Cosell nhận xét rằng ông "chưa bao giờ thấy Ali căn thời gian tệ đến thế" và khi được hỏi về màn trình diễn trước Young trong cuộc phỏng vấn sau trận đấu, Ali thừa nhận mình đang "già đi" và rằng ông đang "giữ sức" cho Ken Norton.[111] Ngày 24 tháng 5 năm 1976, Ali đánh bại Richard Dunn bằng knock-out kỹ thuật ở hiệp 5. Cú đấm được dùng để hạ đo ván Dunn đã được Đại sư Taekwondo Jhoon Rhee dạy cho Ali. Rhee gọi cú đấm đó là "Accupunch" (Cú đấm tốc độ); ông đã học nó từ Lý Tiểu Long.[112] Trận đấu với Dunn là lần cuối cùng Ali hạ knock-out một đối thủ trong sự nghiệp quyền Anh của mình.
Ali đấu với Ken Norton lần thứ ba vào tháng 9 năm 1976. Trận đấu được tổ chức tại Sân vận động Yankee, kết thúc với chiến thắng tính điểm đầy tranh cãi nghiêng về Ali, trong khi các bình luận viên ngồi cạnh võ đài lại chấm điểm nghiêng về Norton. Sau đó, ông tuyên bố giải nghệ quyền Anh để thực hành đức tin của mình, sau khi đã cải đạo sang Hồi giáo Sunni do bất hòa với tổ chức Nation of Islam vào năm trước đó.[113]
Sau khi trở lại để đánh bại Alfredo Evangelista vào tháng 5 năm 1977, Ali đã gặp rất nhiều khó khăn trong trận đấu tiếp theo gặp Earnie Shavers vào tháng 9 năm đó, ông bị giã liên tiếp vào đầu vài lần. Ali thắng trận bằng một quyết định đồng thuận khác, nhưng trận đấu đã khiến bác sĩ lâu năm của ông là Ferdie Pacheco phải từ chức sau khi bị gạt đi ý kiến khuyên Ali nên giải nghệ. Pacheco được dẫn lời: "Ủy ban Thể thao Bang New York đã đưa cho tôi một báo cáo cho thấy thận của Ali đang hỏng dần. Tôi đã viết thư cho Angelo Dundee, huấn luyện viên của Ali, cho vợ cậu ấy và cả chính Ali nữa. Tôi không nhận được hồi âm gì cả. Đó là lúc tôi quyết định thế là quá đủ rồi."[28]
Vào tháng 2 năm 1978, Ali đối đầu với Leon Spinks tại Khách sạn Hilton ở Las Vegas. Vào thời điểm đó, Spinks mới chỉ có vỏn vẹn bảy trận đấu chuyên nghiệp trong tay, và gần đây đã có một trận hòa với tay đấm hạng thường Scott LeDoux. Ali đã đấu tập chưa đến hai mươi hiệp để chuẩn bị cho trận đấu và thể trạng xuống cấp nghiêm trọng khi tiếng chuông khai cuộc vang lên. Ông đã mất danh hiệu vô địch bằng một quyết định không đồng thuận (split decision). Trận tái đấu diễn ra vào tháng 9 tại Superdome ở New Orleans, Louisiana. 70.000 người đã đến xem trận đấu và trả tổng cộng 6 triệu đô la tiền vé, biến đây thành sự kiện có doanh thu bán vé trực tiếp lớn nhất trong lịch sử quyền Anh vào thời điểm đó.[114] Ali đã giành chiến thắng bằng quyết định đồng thuận trong một trận đấu tẻ nhạt, với trọng tài Lucien Joubert chấm 10–4, giám định Ernie Cojoe chấm 10–4, và giám định Herman Preis chấm 11–4 (số hiệp thắng). Điều này đưa Ali trở thành nhà vô địch hạng nặng đầu tiên giành được đai ba lần.[115][116]
Sau chiến thắng này, vào ngày 27 tháng 7 năm 1979, Ali tuyên bố giải nghệ quyền Anh. Tuy nhiên, sự nghỉ hưu của ông diễn ra rất ngắn ngủi; Ali tuyên bố trở lại để đối đầu với Larry Holmes tranh đai WBC trong nỗ lực giành chức vô địch hạng nặng lần thứ tư, một điều chưa từng có tiền lệ. Trận đấu chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu tài chính của Ali. Cây bút quyền Anh Richie Giachetti cho biết: "Larry không muốn đấu với Ali. Ông ấy biết Ali chẳng còn gì cả; ông ấy biết đó sẽ là một thảm họa."
Chính vào khoảng thời gian này, Ali bắt đầu gặp khó khăn với chứng nói lắp và run tay.[117] Ủy ban Thể thao Nevada (NAC) đã yêu cầu ông phải trải qua một cuộc kiểm tra thể chất toàn diện tại Las Vegas trước khi được phép thi đấu trở lại. Thay vào đó, Ali chọn đến khám tại Mayo Clinic, nơi tuyên bố ông đủ sức khỏe để thi đấu. Ý kiến của họ đã được NAC chấp nhận vào ngày 31 tháng 7 năm 1980, mở đường cho sự trở lại võ đài của Ali.[118]
Bị xử thua trước Larry Holmes
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 2 tháng 10 năm 1980, Ali trở lại võ đài để đấu với Holmes tại Caesars Palace ở Las Vegas. Holmes, người thi đấu dưới biệt danh "Sát thủ vùng Easton" (The Easton Assassin), đã dễ dàng áp đảo Ali. Sau hiệp thứ mười, Angelo Dundee đã bước vào võ đài và yêu cầu trọng tài cho dừng trận đấu. Đó là lần duy nhất Ali từng thua bằng hình thức bị cho dừng trận đấu (stoppage).
Ngay sau trận đấu, Ali đã được cho dùng thuốc giảm đau và thuốc chống trầm cảm, vi phạm các quy tắc của Hội đồng Quyền Anh Thế giới (WBC) vốn nghiêm cấm việc sử dụng bất kỳ loại thuốc nào trước khi thực hiện xét nghiệm nước tiểu sau trận đấu.[119][120]
Giachetti gọi trận đấu là "kinh khủng... sự kiện thể thao tồi tệ nhất mà tôi từng phải đưa tin". Nam diễn viên Sylvester Stallone đã ngồi ngay cạnh võ đài theo dõi trận đấu và nhận xét rằng việc đó giống như đang xem "một buổi khám nghiệm tử thi trên một cơ thể vẫn còn đang sống".[28] Trận đấu với Holmes được cho là đã góp phần dẫn đến hội chứng Parkinson của Ali sau này.[121][122][123] Bất chấp những lời khẩn cầu ông hãy giải nghệ dứt khoát, Ali vẫn thi đấu thêm một lần cuối cùng vào ngày 11 tháng 12 năm 1981, tại Nassau, Bahamas, trước Trevor Berbick, và để thua bằng kết quả tính điểm sau mười hiệp.[124][125][126]
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]Anh chị em
[sửa | sửa mã nguồn]Rahman Ali (1943–2025) là người em trai duy nhất của Ali. Mặc dù không thành công vang dội như anh mình, Rahaman—tên khai sinh là Rudolph Arnett Clay—cũng đã nối gót anh trai và trở thành một võ sĩ quyền Anh chuyên nghiệp từ năm 1964 đến năm 1972.[127] Sau khi sự nghiệp thi đấu kết thúc, Rahaman thường xuyên đi du đấu và tập luyện cùng Muhammad.[127]
Hôn nhân và con cái
[sửa | sửa mã nguồn]Ali kết hôn bốn lần và có bảy người con gái cùng hai người con trai. Ali được Herbert Muhammad—người sau này trở thành quản lý lâu năm của ông—giới thiệu với cô nhân viên phục vụ cocktail tên là Sonji Roi, và ông đã cầu hôn cô ngay sau buổi hẹn hò đầu tiên. Họ kết hôn khoảng một tháng sau đó vào ngày 14 tháng 8 năm 1964.[128] Hai người thường xuyên cãi vã vì Sonji từ chối gia nhập tổ chức Nation of Islam.[129] Theo lời Ali: "Cô ấy không chịu làm những gì cô ấy phải làm. Cô ấy tô son; cô ấy đi quán bar; cô ấy mặc những bộ quần áo hở hang và trông không đúng đắn."[130] Cuộc hôn nhân không có con cái và họ ly dị vào ngày 10 tháng 1 năm 1966. Ngay trước khi thủ tục ly hôn hoàn tất, Ali gửi cho Sonji một mảnh giấy: "Em đã đổi thiên đường lấy địa ngục rồi, cưng à."[131] Em trai của Ali là Rahaman cho biết cô ấy là tình yêu đích thực duy nhất của Ali, và tổ chức Nation of Islam đã ép Ali ly dị cô, khiến Ali không bao giờ nguôi ngoai được.[129]

Vào ngày 17 tháng 8 năm 1967, Ali kết hôn với Belinda Boyd, 17 tuổi. Trong một cuộc phỏng vấn với đài NBC 6, Boyd kể lại lần gặp Ali khi bà mới 10 tuổi tại nhà thờ Hồi giáo ở quê nhà. Boyd kể rằng Ali đã ký tặng bà và hài hước nhận xét về sự nổi tiếng trong tương lai của mình: "Nghe này cô bé. Đây là tên anh. Anh sẽ trở nên nổi tiếng. Em cần giữ cái này vì nó sẽ đáng giá rất nhiều tiền đấy." Boyd đáp: "Anh sẽ chẳng bao giờ nổi tiếng với cái tên đó đâu. Và rồi tôi bỏ đi."[132] Sinh ra trong một gia đình ở Chicago đã cải đạo sang Nation of Islam, bà sau đó đổi tên thành Khalilah Ali, dù bạn bè cũ và gia đình vẫn gọi bà là Belinda. Họ có bốn người con: tác giả kiêm rapper Maryum[133] "May May" (sinh năm 1968); cặp song sinh Jamillah và Rasheda (sinh năm 1970); và Muhammad Ali Jr. (sinh năm 1972).[134] Rasheda kết hôn với Robert Walsh và có hai con trai: Biaggio Ali (sinh năm 1998), là một võ sĩ MMA nghiệp dư, và Nico Ali Walsh (sinh năm 2000), là một võ sĩ quyền Anh chuyên nghiệp.[135]
Ali từng cư trú tại Cherry Hill, New Jersey, vùng ngoại ô của Philadelphia vào đầu những năm 1970.[136] Ở tuổi 31 vào năm 1973, Ali bắt đầu một mối quan hệ ngoài luồng với Wanda Bolton, 16 tuổi (người sau đó đổi tên thành Aaisha Fletcher), và có với cô một người con gái khác tên là Khaliah (sinh tháng 6 năm 1974).[137][138] Khi vẫn đang kết hôn với Belinda, Ali đã cưới Aaisha trong một nghi lễ Hồi giáo không được pháp luật công nhận. Theo lời Khaliah, Aaisha và mẹ cô đã sống tại trại huấn luyện Deer Lake của Ali cùng với Belinda và các con của bà.[138] Vào tháng 1 năm 1985, Aaisha kiện Ali đòi tiền cấp dưỡng chưa thanh toán. Vụ việc được dàn xếp khi Ali đồng ý lập một quỹ tín thác trị giá 200.000 đô la cho Khaliah.[139] Ông có một người con gái khác, Miya (sinh năm 1972), từ mối quan hệ ngoài luồng với Patricia Harvell.[140]


Đến mùa hè năm 1977, cuộc hôn nhân thứ hai của ông kết thúc do thói trăng hoa liên tục của Ali, và ông đã kết hôn với nữ diễn viên kiêm người mẫu Veronica Porché.[141] Vào thời điểm kết hôn, họ đã có một cô con gái tên là Hana, và Veronica đang mang thai đứa con thứ hai. Con gái thứ hai của họ, Laila Ali, sinh vào tháng 12 năm 1977, và sau này trở thành một võ sĩ quyền Anh chuyên nghiệp.[142] Đến năm 1986, Ali và Porché ly dị vì sự không chung thủy tiếp tục tiếp diễn của Ali. Porché nói về sự không chung thủy của Ali: "Có quá nhiều cám dỗ đối với anh ấy, với những người phụ nữ tự lao vào anh. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Anh ấy không có bồ bịch—anh ấy chỉ có những cuộc tình một đêm. Tôi biết chắc chắn rằng không có tình cảm nào trong đó. Mọi chuyện quá rõ ràng, nên thật dễ để tha thứ cho anh ấy."[143]
Vào ngày 19 tháng 11 năm 1986, Ali kết hôn với Yolanda "Lonnie" Williams. Lonnie gặp Ali lần đầu khi bà mới 6 tuổi, lúc gia đình bà chuyển đến Louisville vào năm 1963.[144] Năm 1982, bà trở thành người chăm sóc chính cho Ali và để đền đáp, ông đã chi trả cho bà theo học cao học tại UCLA.[144] Họ cùng nhau nhận nuôi một người con trai, Asaad Amin (sinh năm 1986), khi Asaad được năm tháng tuổi.[145] Năm 1992, Lonnie thành lập công ty Greatest of All Time, Inc. (G.O.A.T. Inc) để hợp nhất và cấp phép các tài sản trí tuệ của ông cho mục đích thương mại. Bà giữ chức phó chủ tịch kiêm thủ quỹ cho đến khi công ty được bán vào năm 2006.[144]

Sau đó, Ali sống tại Scottsdale, Arizona cùng với Lonnie.[146] Vào tháng 1 năm 2007, có tin cho rằng họ đã rao bán ngôi nhà ở Berrien Springs, Michigan, nơi họ đã mua vào năm 1975,[147] và đã mua một ngôi nhà ở phía đông Quận Jefferson, Kentucky, với giá 1.875.000 đô la.[148] Cả hai ngôi nhà này sau đó đều đã được bán sau khi Ali qua đời, còn Lonnie sống tại ngôi nhà còn lại của họ ở Paradise Valley, Arizona. Lonnie đã cải đạo từ Công giáo sang Hồi giáo khi bà ở độ tuổi cuối 20.[149]
Con gái của Ali là Laila là một võ sĩ quyền Anh chuyên nghiệp từ năm 1999 đến năm 2007,[150] bất chấp sự phản đối trước đó của cha cô đối với quyền Anh nữ. Năm 1978, ông từng nói: "Phụ nữ không được sinh ra để bị đánh vào ngực và mặt như thế."[151] Tuy nhiên, Ali vẫn đến dự khán một số trận đấu của con gái mình.[152] Con gái Hana của Ali kết hôn với võ sĩ hạng trung của giải Bellator là Kevin Casey. Hana viết về cha mình: "Tình yêu thương con người của ông thật phi thường. Tôi đi học về và thấy những gia đình vô gia cư đang ngủ trong phòng dành cho khách của chúng tôi. Ông thấy họ trên đường phố, đưa tất cả lên chiếc Rolls-Royce của mình và chở về nhà. Ông mua quần áo cho họ, đưa họ đến khách sạn và trả tiền phòng trước cả mấy tháng." Cô cũng cho biết những người nổi tiếng như Michael Jackson và Clint Eastwood thường xuyên đến thăm Ali.[153][154]
Tôn giáo và niềm tin
[sửa | sửa mã nguồn]Mối liên hệ với Nation of Islam
[sửa | sửa mã nguồn]Ali cho biết ông lần đầu nghe nói về Nation of Islam (Tổ chức Quốc gia Hồi giáo) khi đang thi đấu tại giải Găng tay Vàng ở Chicago năm 1959. Ông tham dự cuộc họp đầu tiên của tổ chức này vào năm 1961. Sau đó ông tiếp tục tham dự các cuộc họp, mặc dù vẫn giữ bí mật về sự tham gia của mình trước công chúng. Năm 1962, Clay gặp Malcolm X, người đã sớm trở thành cố vấn về tinh thần và chính trị của ông.[155] Vào thời điểm diễn ra trận đấu đầu tiên với Liston, các thành viên của Nation of Islam, bao gồm cả Malcolm X, đã xuất hiện công khai trong đoàn tùy tùng của ông. Điều này dẫn đến một bài viết trên tờ The Miami Herald ngay trước trận đấu tiết lộ rằng Clay đã gia nhập Nation of Islam, sự việc này đã suýt chút nữa khiến trận đấu bị hủy bỏ. Bài báo trích lời Cassius Clay Sr. (cha của Ali) nói rằng con trai ông đã gia nhập nhóm Người Hồi giáo Da đen khi mới 18 tuổi.[156]

Trên thực tế, Clay ban đầu bị từ chối gia nhập Nation of Islam (thường được gọi là Người Hồi giáo Da đen vào thời điểm đó) do sự nghiệp thi đấu quyền Anh của ông. Tuy nhiên, sau khi ông giành chức vô địch từ tay Liston năm 1964, Nation of Islam đã cởi mở hơn và đồng ý công khai tư cách thành viên của ông.[155] Ngay sau đó vào ngày 6 tháng 3, Elijah Muhammad đã có bài phát biểu trên đài phát thanh tuyên bố rằng Clay sẽ được đổi tên thành Muhammad (người đáng được ca ngợi) Ali (người tối cao).[157] Khoảng thời gian đó, Ali chuyển đến khu phía nam Chicago và sống ở nhiều ngôi nhà khác nhau, luôn ở gần Thánh đường Maryam của Nation of Islam hoặc nơi ở của Elijah Muhammad. Ông sống tại Chicago trong khoảng 12 năm.[158]
Chỉ một vài nhà báo, đáng chú ý nhất là Howard Cosell, chấp nhận cái tên mới vào thời điểm đó. Ali tuyên bố rằng cái tên trước đây của ông là "tên nô lệ" và là "tên của người da trắng", đồng thời nói thêm rằng "Tôi không chọn nó và tôi không muốn nó. Tôi là Muhammad Ali, một cái tên tự do".[159] Người mà ông được đặt tên theo trước đây là một chủ nô da trắng sau trở thành người theo chủ nghĩa bãi nô.[160] Ali giải thích trong cuốn tự truyện của mình sau khi nghiên cứu các tác phẩm của người này: "ông ta có thể đã giải phóng nô lệ của mình, 'nhưng (ông ta) vẫn giữ tư tưởng người da trắng thượng đẳng'".[161] Ali kết luận: "Tại sao tôi lại phải làm rạng danh cái tên của kẻ chủ nô da trắng, trong khi tổ tiên da đen của tôi lại chìm vào quên lãng, vô danh và không được ai tôn trọng?"[159]
Không ngại làm mất lòng giới cầm quyền da trắng, Ali tuyên bố: "Tôi là nước Mỹ. Tôi là phần mà các người sẽ không công nhận. Nhưng hãy quen với tôi đi. Da đen, tự tin, ngông nghênh; tên của tôi, không phải của các người; tôn giáo của tôi, không phải của các người; mục tiêu của tôi, là của riêng tôi; hãy quen với tôi đi."[162] Tình bạn của Ali với Malcolm X chấm dứt khi Malcolm tách khỏi Nation of Islam chỉ vài tuần sau khi Ali gia nhập, và Ali chọn ở lại với tổ chức này.[163][164] Ali sau này nói rằng việc quay lưng lại với Malcolm là một trong những sai lầm mà ông hối tiếc nhất trong đời.[165]
Ali trở thành tâm điểm chỉ trích của công chúng khi đứng chung hàng ngũ với Nation of Islam và lãnh tụ Elijah Muhammad, cũng như ủng hộ quan điểm cho rằng người da trắng là thủ phạm diệt chủng người Mỹ gốc Phi. Cả người da trắng lẫn nhiều người Mỹ gốc Phi đều xem Nation of Islam là một "nhóm tôn giáo thù hận" mang tư tưởng ly khai và có khuynh hướng bạo lực. Bất chấp điều đó, Ali không hề e ngại khi tận dụng tầm ảnh hưởng của mình để truyền bá giáo lý của tổ chức này.[166] Trong một cuộc họp báo bày tỏ sự phản đối Chiến tranh Việt Nam, Ali tuyên bố: "Kẻ thù của tôi là người da trắng, không phải Việt Cộng hay người Trung Quốc hay người Nhật Bản."[53]
Nhà văn Jerry Izenberg từng lưu ý rằng: "Nation đã trở thành gia đình của Ali và Elijah Muhammad trở thành cha của ông. Nhưng có một sự trớ trêu là trong khi Nation gán cho người da trắng là quỷ dữ, Ali lại có nhiều đồng nghiệp da trắng hơn hầu hết người Mỹ gốc Phi vào thời điểm đó ở Mỹ, và ông vẫn tiếp tục làm việc với những người da trắng ấy trong suốt sự nghiệp của mình."[28]
Cải đạo sang Hồi giáo Sunni
[sửa | sửa mã nguồn]Trong cuốn tiểu sử Muhammad Ali: His Life and Times (Muhammad Ali: Cuộc đời và Thời đại) của Hauser, Ali tuyên bố rằng ông không phải là một Kitô hữu vì ông cho rằng ý tưởng Thượng đế có một người con trai nghe có vẻ sai trái và không hợp lý đối với ông, ông nói: "Thượng đế không sinh ra ai cả; chỉ có con người mới sinh con đẻ cái". Tuy nhiên, ông vẫn tin rằng ngay cả những người Kitô giáo tốt hay người Do Thái giáo tốt đều có thể nhận được phước lành của Thượng đế và lên thiên đường, như ông đã nói: "Thượng đế tạo ra tất cả mọi người, bất kể tôn giáo của họ là gì". Ông cũng nói thêm: "Nếu bạn chống lại ai đó vì họ là người Hồi giáo thì điều đó là sai. Nếu bạn chống lại ai đó vì họ là người Kitô giáo hay người Do Thái, điều đó cũng sai".[167]

Trong cuốn tự truyện năm 2004, Ali cho rằng việc ông cải đạo sang dòng Hồi giáo Sunni chính thống là nhờ công của Warith Deen Muhammad, người đã tiếp quản vị trí lãnh đạo Nation of Islam sau khi cha ông là Elijah Muhammad qua đời vào năm 1975 và thuyết phục các tín đồ của tổ chức trở thành tín đồ của Hồi giáo Sunni. Ali nói rằng một số người không thích sự thay đổi này và vẫn bám lấy những lời dạy của Elijah, nhưng ông thì ngưỡng mộ sự thay đổi đó, vì vậy ông đã từ bỏ những lời dạy của Elijah và trở thành một tín đồ của Hồi giáo Sunni.[168]
Năm 1972, Ali thực hiện chuyến hành hương Hajj đến Thánh địa Mecca. Chuyến đi đã truyền cảm hứng cho ông hệt như Malcolm X trước đó: việc gặp gỡ những con người thuộc mọi màu da từ khắp nơi trên thế giới đã mang lại cho ông một thế giới quan mới mẻ và sự giác ngộ tâm linh sâu sắc hơn.[169] Năm 1977, ông chia sẻ rằng sau khi giải nghệ, ông sẽ dành trọn quãng đời còn lại để 'chuẩn bị diện kiến Thượng đế' thông qua việc giúp đỡ người khác, làm từ thiện, gắn kết nhân loại và vun đắp hòa bình. Ông cũng đã thực hiện thêm một chuyến hành hương Hajj đến Mecca vào năm 1988..[170]
Sau Sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, ông tuyên bố rằng "Hồi giáo là một tôn giáo hòa bình" và "không cổ súy khủng bố hay giết hại con người", và rằng ông "giận dữ khi thế giới nhìn thấy một nhóm tín đồ Hồi giáo nào đó gây ra sự tàn phá này, nhưng họ không phải là những người Hồi giáo thực sự. Họ là những kẻ cuồng tín phân biệt chủng tộc tự gọi mình là người Hồi giáo." Vào tháng 12 năm 2015, sau Các vụ tấn công Paris tháng 11 năm 2015, ông tuyên bố rằng "Những người Hồi giáo chân chính biết rằng bạo lực tàn nhẫn của cái gọi là những kẻ thánh chiến Hồi giáo đi ngược lại với chính những giáo lý của tôn giáo chúng tôi", rằng "Chúng tôi là những người Hồi giáo phải đứng lên chống lại những kẻ lợi dụng Hồi giáo để thúc đẩy mưu đồ cá nhân của riêng họ", và rằng "các nhà lãnh đạo chính trị nên sử dụng vị trí của mình để mang lại sự hiểu biết về tôn giáo Hồi giáo, và làm rõ rằng những kẻ sát nhân lầm lạc này đã làm sai lệch quan điểm của mọi người về bản chất thực sự của Hồi giáo."[171]
Ông cũng quan tâm đến Hồi giáo Sufi, điều này đã được ông đề cập trong cuốn tự truyện năm 2003, The Soul of a Butterfly (Linh hồn của một cánh bướm).[165][172][173] Theo con gái của Ali, Hana Yasmeen Ali, người đồng tác giả cuốn The Soul of a Butterfly với ông, Ali đã bị thu hút bởi Hồi giáo Sufi sau khi đọc các cuốn sách của Inayat Khan chứa đựng những giáo lý Sufi.[174][175]
Muhammad Ali đã nhận được sự chỉ dẫn từ các học giả Hồi giáo như Đại Mufti của Syria Al Marhum Al Sheikh Ahmed Kuftaro, Hisham Kabbani, Imam Zaid Shakir, Hamza Yusuf, cũng như Timothy J. Gianotti, người đã lên kế hoạch cho tang lễ của ông.[176][177]
Cuộc sống sau này
[sửa | sửa mã nguồn]Vào cuối sự nghiệp quyền Anh, ước tính Ali đã phải hứng chịu khoảng 200.000 cú đánh.[178]
Năm 1984, Ali được chẩn đoán mắc hội chứng Parkinson, căn bệnh đôi khi là hệ quả của chấn thương đầu do các hoạt động thể chất bạo lực như quyền Anh gây ra.[123][179][180] Ali vẫn duy trì hoạt động trong thời gian này, sau đó còn tham gia với tư cách trọng tài khách mời tại WrestleMania I.[181][182]
Sức khỏe suy giảm
[sửa | sửa mã nguồn]—Muhammad Ali suy ngẫm về căn bệnh Parkinson của mình[183][184]
Hội chứng Parkinson của Ali khiến sức khỏe của ông suy giảm dần dần, dù ông vẫn hoạt động tích cực cho đến đầu những năm 2000, khi tham gia quảng bá cho bộ phim tiểu sử về chính mình, Ali, vào năm 2001. Cũng trong năm đó, ông đã đóng góp một đoạn video cho buổi hòa nhạc gây quỹ America: A Tribute to Heroes.[185]

Năm 1998, Ali bắt đầu hợp tác với nam diễn viên Michael J. Fox, người cũng mắc bệnh Parkinson, để nâng cao nhận thức và gây quỹ nghiên cứu phương pháp chữa trị. Họ đã cùng nhau xuất hiện trước Quốc hội để vận động cho vấn đề này vào năm 2002. Năm 2000, Ali đã làm việc với Quỹ Michael J. Fox nghiên cứu về Parkinson để nâng cao nhận thức và khuyến khích quyên góp cho việc nghiên cứu.[186]
Vào tháng 2 năm 2013, em trai của Ali là Rahaman Ali cho biết Muhammad không còn nói được nữa và có thể sẽ qua đời trong vài ngày tới.[187] Con gái của Ali là May May Ali đã phản bác những tin đồn này, cô khẳng định đã nói chuyện với cha qua điện thoại vào sáng ngày 3 tháng 2 và ông vẫn ổn.[188] Ngày 20 tháng 12 năm 2014, Ali phải nhập viện vì một trường hợp viêm phổi nhẹ.[189] Ali lại nhập viện một lần nữa vào ngày 15 tháng 1 năm 2015 vì nhiễm trùng đường tiết niệu sau khi được tìm thấy trong tình trạng mất phản ứng tại một nhà khách ở Scottsdale, Arizona.[190] Ông được xuất viện vào ngày hôm sau.[191]
Qua đời
[sửa | sửa mã nguồn]Ông qua đời tại một bệnh viện ở khu vực Phoenix tối ngày 3 tháng 6 năm 2016 theo giờ MST, nơi ông đã điều trị chứng rối loạn hô hấp trong vài ngày trước.[192]
Đưa tin và tưởng niệm
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi Ali qua đời, ông đã trở thành chủ đề thịnh hành số một trên Twitter trong hơn 12 giờ và trên Facebook trong vài ngày. Kênh BET đã phát sóng bộ phim tài liệu Muhammad Ali: Made In Miami. Kênh ESPN đã phát sóng bốn giờ liên tục không có quảng cáo về Ali. Các mạng tin tức như ABC News, BBC, CNN và Fox News cũng đưa tin rộng rãi về ông.[193][194]
Các chính khách như Barack Obama, Hillary Clinton, Bill Clinton, Donald Trump, David Cameron và nhiều người khác đã gửi lời tri ân đến Ali. Ali cũng nhận được vô số lời tưởng niệm từ giới thể thao bao gồm Michael Jordan, Tiger Woods, Floyd Mayweather, Mike Tyson, đội Miami Marlins, LeBron James, Steph Curry và nhiều người khác. Thị trưởng Louisville lúc bấy giờ là Greg Fischer tuyên bố: "Muhammad Ali thuộc về thế giới. Nhưng ông ấy chỉ có một quê nhà."[195]
Một ngày sau khi Ali qua đời, giải đấu UFC đã vinh danh Ali tại sự kiện UFC 199 bằng một đoạn video tưởng niệm dài, ghi nhận những thành tựu của Ali và việc ông đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà vô địch UFC.[196]
Tưởng niệm
[sửa | sửa mã nguồn]
Tang lễ của Ali đã được chính ông và những người khác lên kế hoạch từ vài năm trước khi ông thực sự qua đời.[198] Các nghi thức bắt đầu tại Louisville vào ngày 9 tháng 6 năm 2016, với lễ cầu nguyện Janazah theo nghi thức Hồi giáo tại Freedom Hall trong khuôn viên của Trung tâm Triển lãm Kentucky. Lễ cầu nguyện Janazah có sự tham dự của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan.[199] Vào ngày 10 tháng 6 năm 2016, đoàn rước tang lễ đã đi qua các đường phố của Louisville và kết thúc tại Nghĩa trang Cave Hill, nơi thi hài ông được an táng trong một nghi lễ riêng tư. Một lễ tưởng niệm công khai dành cho Ali tại trung tâm KFC Yum! Center ở Louisville được tổ chức vào chiều ngày 10 tháng 6.[200][201][202] Billy Crystal, vợ của Ali là Lonnie Ali, nhà báo thể thao Bryant Gumbel và cựu Tổng thống Bill Clinton đều đã đọc điếu văn.[203] Những người khiêng quan tài bao gồm Will Smith, Lennox Lewis và Mike Tyson, cùng với những người khiêng quan tài danh dự bao gồm George Chuvalo, Larry Holmes và George Foreman.[204] Lễ tưởng niệm Ali được ước tính có khoảng 1 tỷ người xem trên toàn thế giới.[205]
Nếu thước đo của sự vĩ đại là làm vui lòng mọi con người trên bề mặt trái đất này, thì ông ấy thực sự là người vĩ đại nhất. Trong mọi phương diện, ông ấy là người dũng cảm nhất, nhân hậu nhất và xuất sắc nhất.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Cassius Clay". sports-reference.com. Sports Reference LLC. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.
- ↑ "Muhammad Ali: The greatest monument to the great one". www.newshub.co.nz. MediaWorks TV. ngày 31 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
- 1 2 3 4 "Muhammad Ali Biography". www.thefamouspeople.com. Famous People. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
- 1 2 3 "Muhammad Ali refuses Army induction - Apr 28, 1967 - HISTORY.com". HISTORY.com. A&E Television Networks, LLC. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Ali". Random House Webster's Unabridged Dictionary.
- ↑ "Muhammad Ali". ESPN. ngày 20 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012.
- ↑ Peter, Josh (ngày 11 tháng 7 năm 2016). "Why Muhammad Ali never legally changed name from Cassius Clay". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2016.
- 1 2 3 4 5 6 7 Johnson, Rafer (2002). Great Athletes. Quyển 1 . Salem Press. tr. 38–41. ISBN 978-1-58765-008-6. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023.
- 1 2 3 Grimsley, Will (ngày 25 tháng 5 năm 1965). "Muslims gull Clay, says mother". Spokesman-Review. Spokane, Washington. Associated Press. tr. 14. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
- ↑ "Barber Can Relax Hair". The Philadelphia Inquirer. ngày 15 tháng 10 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2009.
- ↑ "Cassius Marcellus Clay Sr., Former Champion's Father, 77". The New York Times. Associated Press. ngày 10 tháng 2 năm 1990. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2009.
- ↑ "Muhammad Ali: Boxer's ancestral Irish town pays tribute after death". BBC. ngày 4 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Ali has Irish ancestry". BBC News. ngày 9 tháng 2 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2009.
- ↑ Reitwiesner, Williams Addams. "Ancestry of Muhammad Ali". Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011.
- ↑ "DNA evidence links Muhammad Ali to heroic slave, family says". Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ↑ Hauser 2004, tr. 14
- 1 2 Eig, Jonathan (2017). Ali: A Life: Shortlisted for the William Hill Sports Book of the Year 2017. Simon & Schuster. ISBN 978-1-4711-5596-3. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023.
- 1 2 Hauser, Thomas (ngày 31 tháng 7 năm 2012). "The Importance of Muhammad Ali". Gilder Lehrman Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Hampton, Henry; Fayer, Steve; Flynn, Sarah (1990). Voices of Freedom: An Oral History of the Civil Rights Movement from the 1950s through the 1980s. Bantam Books. tr. 321. ISBN 978-0-553-05734-8.
- ↑ Gorn, Elliott (1998). Muhammad Ali: The People's Champ. University of Illinois Press. tr. 76–77. ISBN 978-0-252-06721-1.
- ↑ Kandel, Elmo (ngày 1 tháng 4 năm 2006). "Boxing Legend – Muhammad Ali". Article Click. Elmo Kandel. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2009.
- ↑ "Muhammad Ali". University of Florida. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008.
- ↑ The Soul of a Butterfly: Reflections on Life's Journey. Simon and Schuster. 2013. tr. 18.
- ↑ Fernandez, Pedro Fernandez (ngày 2 tháng 9 năm 2007). "'Godfather' Of Cutmen-Chuck Bodak Suffers Stroke". RingTalk. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2015.
- ↑ Gray, Geoffey (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "How Muhammad Ali Became a Boxer – Daily Intelligencer". New York. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Ward, Nathan (tháng 10 năm 2006). "A Total Eclipse of the Sonny". American Heritage. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2007.
- ↑ Hall, C. Ray (ngày 5 tháng 6 năm 2016). "The Early Years, Seeds of a champion planted in Louisville gym". The Courier-Journal. tr. K3. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2026 – qua Newspapers.com.
- 1 2 3 4 5 6 7 Hauser 2004
- ↑ Calkins, Matt (ngày 17 tháng 11 năm 2014). "Archie Moore was the KO king". U-T San Diego. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Krantz, Les (2008). Ali in Action: The Man, the Moves, the Mouth. Globe Pequot. ISBN 978-1-59921-302-6. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2016 – qua Google Books.
- ↑ Velin, Bob (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "Fight by fight: Muhammad Ali's legendary career". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Bob Mee, Ali and Liston: The Boy Who Would Be King and the Ugly Bear, 2011.
- ↑ Capouya, John (ngày 12 tháng 12 năm 2005). "King Strut". Sports Illustrated. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Burkholder, Denny (ngày 6 tháng 6 năm 2016). "How Muhammad Ali's fascination with pro wrestling fueled his career, inspired MMA". CBS Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
- ↑ Irusta, Carlos (ngày 17 tháng 1 năm 2012). "Dundee: Ali was, still is 'The Greatest'". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012.
- ↑ Haygood, Wil (2011). Sweet Thunder: The Life and Times of Sugar Ray Robinson. Chicago Review Press. tr. 378. ISBN 978-1-56976-864-8. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2016.
- 1 2 3 Lipsyte, Robert (ngày 26 tháng 2 năm 1964). "Clay Wins Title in Seventh-Round Upset As Liston Is Halted by Shoulder Injury". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008.
- ↑ Remnick, David (2014). King of the World: Muhammad Ali and the Rise of an American Hero. Knopf Doubleday Publishing Group. tr. 147. ISBN 9780804173629. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2024.
- ↑ Sugar, Bert Randolph (2003). Bert Sugar on Boxing: The Best of the Sport's Most Notable Writer. Globe Pequot. tr. 196. ISBN 978-1-59228-048-3. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
- ↑ McLeod, Kembrew, Pranksters: Making Mischief in the Modern World, pp. 223–224.
- ↑ Cassius Clay versus Sonny Liston. Theatre Network Television. ESPN Classic. ngày 25 tháng 2 năm 1964. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023 – qua kumite27 (YouTube).
- ↑ Cuddy, Jack (ngày 14 tháng 11 năm 1964). "Clay Undergoes Surgery; Fight Is Off Indefinitely". The Bridgeport Telegram. tr. 1. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017 – qua Newspapers.com.

- ↑ Archived at Ghostarchive and the Wayback Machine: "Muhammad Ali vs Sonny Liston I & II – Highlights (Ali Becomes World Champion & Phantom Punch Fight!)". YouTube. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018.
- ↑ Anderson, Dave (ngày 16 tháng 1 năm 1992). "Sports of The Times; On His 50th, Ali Is Still 'The Greatest'". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012.
- ↑ Vachss, Andrew (2003). Only Child. Vintage. tr. 89. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016. Vachss further explains the way such a fix would have been engineered in Two Trains Running. Pantheon. 2005. tr. 160–165, 233. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
- 1 2 Belth, Alex (ngày 27 tháng 8 năm 2012). "Ali–Patterson: The Real Story". Sports on Earth. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Boxing – Muhammad Ali – Rank Cinema, Wardour Street, London". GettyImages. ngày 16 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2020.
- ↑ Ezra, Michael (2013). The Economic Civil Rights Movement: African Americans and the Struggle for Economic Power. Routledge. tr. 105. ISBN 978-1-136-27475-6. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Shalit, Nevin I. (ngày 15 tháng 7 năm 1980). "Muhammad Ali: Losing the Real Title". The Harvard Crimson. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015.
- ↑ Fatsis, Stefan (ngày 8 tháng 6 năm 2016). ""No Viet Cong Ever Called Me Nigger"". Slate (bằng tiếng Anh). ISSN 1091-2339. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2023.
- ↑ Dundee, Angelo; Maule, Tex (ngày 28 tháng 8 năm 1967). "He Could Go To Jail And Still Be Champ". Sports Illustrated.
- ↑ Maule, Tex (ngày 13 tháng 2 năm 1967). "Cruel Ali With All The Skills". Sports Illustrated. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2013.
- 1 2 Metz, Nina (ngày 31 tháng 8 năm 2013). "The trials of a Chicago director making Muhammad Ali doc". Chicago Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016.
- 1 2 3 Foley, Michael (2003), Confronting the War Machine: Draft Resistance during the Vietnam War, University of North Carolina Press, ISBN 978-0-8078-5436-5, Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2015
- ↑ "Clay may be put into 1-A class today". Lodi News-Sentinel. United Press International. ngày 10 tháng 2 năm 1967. tr. 13. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
- 1 2 Neel, Eric. "Page2 – Muhammad Ali from A to Z". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013.
- 1 2 Roberts, Randy (1991). Winning is the Only Thing: Sports in America Since 1945. Johns Hopkins University Press. tr. 171–172.
- ↑ Network, Warfare History. "Vietnam War: Muhammad Ali's Draft Controversy". The National Interest. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Remnick, David (2014). King of the World: Muhammad Ali and the Rise of an American Hero. Knopf Doubleday Publishing Group. tr. 287. ISBN 9780804173629. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2024.
- ↑ Haas, Jeffrey (2009). The Assassination of Fred Hampton: How the FBI and the Chicago Police Murdered a Black Panther. Lawrence Hill Books. tr. 27. ISBN 978-1-55652-765-4. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Hallett, Alison. "Not So Fast". Portland Mercury. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2013.
- 1 2 Rhoden, William C. (ngày 20 tháng 6 năm 2013). "In Ali's Voice From the Past, a Stand for the Ages". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2017.
- ↑ Kellum, B. F. (ngày 29 tháng 4 năm 1967). "Appeals Could Take 18 Months". The Asheville Citizen. AP. tr. 11. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2023 – qua Newspapers.com.
- ↑ Reemstsma, Jean (1999). More Than a Champion: The Style of Muhammad Ali. New York: Vintage. ISBN 978-0-375-70005-7. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2012.
- ↑ "Remembering Cleveland's Muhammad Ali Summit, 45 years later" Lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại Wayback Machine, Branson Wright for The Plain Dealer via Cleveland.com, June 3, 2012. Retrieved July 23, 2020.
- ↑ "Conversation with Muhammad Ali". WGBH, Library of Congress, American Archive of Public Broadcasting (WGBH and the Library of Congress), Boston, MA and Washington, DC. ngày 7 tháng 7 năm 1968. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "Cassius Marsellus CLAY, Jr. also known as Muhammad Ali, Petitioner, v. United States". LII / Legal Information Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2017.
- ↑ ""The Greatest" Is Gone". Time. ngày 27 tháng 2 năm 1978. tr. 5. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2007.
- ↑ "Cassius Marsellus Clay, Jr. also known as Muhammad Ali, Petitioner, v. United States". Law.cornell.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “LII / Legal Information Institute” (trợ giúp) - ↑ "Clay v. United States". Oyez.org. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “The Oyez Project at IIT Chicago-Kent College of Law” (trợ giúp) - ↑ Day at Night: Muhammad Ali, legendary boxing champion. CUNY TV. ngày 19 tháng 2 năm 1974. Sự kiện xảy ra vào lúc 21:50. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Interview with Muhammad Ali". digital.wustl.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "Oprah Talks to Muhammad Ali". Oprah.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2020.
- ↑ Star-Ledger, Jerry Izenberg | For The (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "Why I called Muhammad Ali my friend". nj.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2020.
- ↑ Wolfson, Andrew. "Muhammad Ali lost everything in opposing the Vietnam War. But in 1968, he triumphed". USA Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "Interview with Kareem Abdul-Jabbar". Digital.wustl.edu. ngày 3 tháng 3 năm 1989. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013.
- ↑ "Muhammad Ali: The man who changed his sport and his country". BBC. ngày 5 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018.
- ↑ Ezra, Michael (2009). "Muhammad Ali's Main Bout: African American Economic Power and the World Heavyweight Title". Muhammad Ali: The Making of an Icon. Temple University Press. tr. 82. ISBN 978-1-59213-661-2. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Dundee: Ali was, still is 'The Greatest'". ESPN. ngày 17 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013.
- ↑ Whitcomb, Dan (ngày 5 tháng 6 năm 2016). "Former Ali promoter Bob Arum recalls boxer's impact on society". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2024.
- ↑ Rapold, Nicolas (ngày 22 tháng 8 năm 2013). "One of His Biggest Fights Was Outside of the Ring". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016.
- ↑ Glanton, Dahleen (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "Muhammad Ali's exile years in Chicago: 'Learning about life'". Chicago Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
- ↑ Tinsley, Justin (ngày 17 tháng 1 năm 2018). "What if the Muhammad Ali we knew had never existed?". Andscape. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Case of Muhammad Ali: The Ultimate Civil Disobedience". The Austin American. ngày 3 tháng 5 năm 1967. tr. 24. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Secret Honeymoon of the Champ: Muhammad Ali joins Muslim speaking tour with his wedding trip". Ebony. Quyển 23 số 1. tháng 11 năm 1967. tr. 146–151 (151). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Ali vs. Marciano: Who wins?". The Enterprise. ngày 1 tháng 9 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2016.
- ↑ "The forgotten story of ... the Rocky Marciano v Muhammad Ali Super Fight". The Guardian. ngày 13 tháng 11 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2016.
- ↑ Bingham, Howard; Wallace, Max (2000). Muhammad Ali's Greatest Fight: Cassius Clay vs. the United States of America. M. Evans. tr. 218. ISBN 978-0-87131-900-5.
- ↑ Davis, David (ngày 1 tháng 10 năm 2005). "Knockout: An oral history of Muhammad Ali, Atlanta, and the fight nobody wanted". Atlanta. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Clay granted New York ring license". The Palm Beach Post. Associated Press. ngày 15 tháng 9 năm 1970. tr. B4. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Kang, Jay Caspian (ngày 4 tháng 4 năm 2013). "The End and Don King". Grantland. ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
- ↑ McDougall, Christopher (2014). The Best American Sports Writing 2014. Houghton Mifflin Harcourt. tr. 149. ISBN 978-0-544-14700-3. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Keating, Steve (ngày 5 tháng 3 năm 2021). "Ali, Frazier 'Fight of the Century' still packs a punch 50 years on". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2021.
- ↑ "Ali's Remark Ended Wilt's Ring Career". Los Angeles Times. ngày 15 tháng 1 năm 1989. Morning Briefing. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2020.
- ↑ O'Reilly, Terry (ngày 3 tháng 3 năm 2016). "Achilles Heel Advertising: Repositioning the Competition". Canadian Broadcasting Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018.
- ↑ "Victor, at 220½, in Command of Houston Bout". The New York Times. ngày 27 tháng 7 năm 1971. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2022.
- ↑ Hissner, Ken (ngày 21 tháng 4 năm 2023). "Muhammad Ali Talks About His Relationship With Elvis!". Boxing News. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2024.
- ↑ "The King and The Greatest made beautiful music". The Commercial Appeal. ngày 4 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 Selbe, Nick (ngày 31 tháng 3 năm 2020). "This Day in History: Ken Norton Breaks Muhammad Ali's Jaw". Sports Illustrated (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2024.
- ↑ "Ali and Cosell, Irresistible Enigmas". NPR (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Archived at Ghostarchive and the Wayback Machine: "Muhammad Ali – The Rumble In The Jungle(Interview)". YouTube. ngày 22 tháng 3 năm 1967. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013.
- ↑ Archived at Ghostarchive and the Wayback Machine: "Muhammad Ali Inspirational Speech (Cassius Clay Boxing Motivation)". YouTube. ngày 14 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013.
- ↑ Foreman, George (tháng 1 năm 2012). "George Foreman on why Muhammad Ali was so much more than a 'boxer'". ShortList. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Lee, Bill (ngày 18 tháng 11 năm 1974). "Zaire's fight promotion opens new gold mines". The Morning Herald. tr. 30. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2024 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Ali Regains Title, Flooring Foreman". The New York Times. ngày 30 tháng 10 năm 1974. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2019.
- ↑ "Rumble in the Jungle: the night Ali became King of the World again". The Guardian. ngày 29 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2014.
- ↑ "Revisiting 'The Rumble in the Jungle' 40 years later". USA Today. ngày 29 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Mike Tyson May Fight George Foreman In Biggest Money Match: $80 Million". Jet. Quyển 88 số 19. ngày 18 tháng 9 năm 1995. tr. 46. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Schneiderman, R. M. (ngày 10 tháng 8 năm 2006). "Stallone Settles With The 'Real' Rocky". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2019.
- ↑ Blaine Henry (ngày 18 tháng 5 năm 2019). "History Lesson: Thrilla in Manila". Fight-Library.com. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2020.
- ↑ Muhammad Ali vs Jimmy Young ABC 1080p 60fps (1976) (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2023, truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2023
- ↑ "Jhoon Rhee, Father of American Tae Kwon Do". jhoonrhee.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2019.
- ↑ "Champion Ali Quits Boxing". The Paris News. ngày 1 tháng 10 năm 1976. tr. 12. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2011.
- ↑ Read Peter Finney's column on Ali vs. Spinks 2 at the Superdome in 1978 Lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2018 tại Wayback Machine, The Times-Picayune NOLA.com (New Orleans, LA.), re-posted on June 4, 2016.
- ↑ Muhammad Ali, The Glory Years, Felix Dennis and Don Atyeo, p. 258.
- ↑ The Last Flight of the Butterfly: Remembering Ali vs Spinks II Lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2018 tại Wayback Machine, RingsideReport.com, Kevin "The Voice" Kincade, September 22, 2016.
- ↑ "Muhammad Ali Fast Facts". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2013.
- ↑ Koch, Ed. "Timeline: Fifty years of Las Vegas memories for Muhammad Ali". Las Vegas Sun. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2013.
- ↑ Barnes, Bart (ngày 15 tháng 10 năm 1980). "Ali Faces Ring Suspension". The Washington Post (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Eig, Jonathan (ngày 30 tháng 9 năm 2017). "Failed drug test was sign of the great man's decline". The Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Hale, Mike (ngày 26 tháng 10 năm 2009). "Boxing King Casts His Shadow, Even at Time of Defeat". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2012.
- ↑ AP Lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020 tại Wayback Machine "Muhammad Ali's doctor doubts boxing led to Parkinson's", Associated Press via CBC, June 6. 2016. Retrieved September 1, 2018.
- 1 2 Thomas, Robert McG. Jr. (ngày 20 tháng 9 năm 1984). "Change In Drug Helps Ali Improve". The New York Times. tr. D–29. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2009.
- ↑ "Ali to try again?". The Daytona Beach Sunday News-Journal. Associated Press. ngày 16 tháng 8 năm 1981. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "It's all over for Ali after loss". Lawrence Journal-World. Associated Press. ngày 12 tháng 12 năm 1981. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Nack, William (ngày 21 tháng 12 năm 1981). "Not with a bang but a whisper". Sports Illustrated. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
- 1 2 "Rahaman Ali, Younger Brother of Muhammad Ali, Dies At 82". Muhammad Ali Center. ngày 4 tháng 8 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Micklos, John Jr. (2010). Muhammad Ali: "I Am the Greatest". Berkeley Heights, NJ: Enslow Publishers. tr. 54. ISBN 978-0-7660-3381-8.
- 1 2 "Ep. 6: "How Much You Gonna Pay Me?" – Rahman Ali". Ali: A Life. ngày 3 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2020.
- ↑ Hauser, Thomas (2012). Muhammad Ali: His Life and Times. Open Road Integrated Media. tr. 252. ISBN 978-1-4532-4119-6.
- ↑ Hauser, Thomas (2012). Muhammad Ali: His Life and Times. Open Road Integrated Media. tr. 288. ISBN 978-1-4532-4119-6.
- ↑ "The Secrets of Ali: Former Wife of Boxing Champ Tells All". nbcmiami.com (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Muhammad Ali's Daughter, May May Ali, Writes Children's Book About His Boxing Career". Jet. Quyển 104 số 24. ngày 8 tháng 12 năm 2003. tr. 38–39. ISSN 0021-5996. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023 – qua Google Books.
- ↑ "Muhammad Ali's son shut off from dad, living in poverty". ngày 26 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2021.
- ↑ "For Muhammad Ali's grandson, family legacy extends beyond the ring". Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Ali's camp now a bed and breakfast". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012.
- ↑ Davis, Carolyn (ngày 25 tháng 10 năm 2009). "Charity mission to commemorate a memorable fight". The Philadelphia Inquirer. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 Rush, George; Joanna Molloy; Lola Ogunnaike; Kasia Anderson (ngày 18 tháng 3 năm 2001). "Ali Daughter Tosses Book in Ring". New York Daily News. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2016.
- ↑ "Former three-time heavyweight boxing champion Muhammad Ali agreed Tuesday ..." UPI. ngày 28 tháng 1 năm 1986. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2016.
- ↑ "Muhammed Ali Biography (sic)". Lifetime. ngày 23 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015.
- ↑ Peter, Josh (ngày 6 tháng 6 năm 2016). "Muhammad Ali's ex-wife reveals details about their secret wedding". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Laila Ali expecting a baby". Sandrarose.com. ngày 26 tháng 3 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015.
- ↑ Pitzer, Kurt (ngày 9 tháng 6 năm 2016). "How Muhammad Ali's Ex-Wives Forgave His Infidelity: Cheating 'Never Meant Anything to Him'". People (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.
- 1 2 3 Crouse, Karen (ngày 9 tháng 6 năm 2016). "Muhammad Ali Was Her First, and Greatest, Love". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
- ↑ Allen, Nick (June 5, 2016), "Could Muhammad Ali's $80m fortune become subject of bitter legal battle?" Lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2018 tại Wayback Machine, The Daily Telegraph.
- ↑ "Brother: Muhammad Ali's health failing". United Press International. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014.
- ↑ Brewer, Dale (ngày 16 tháng 9 năm 2018). "When Ali was King". The Herald-Palladium. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2018.
- ↑ Shafer, Sheldon S. (ngày 25 tháng 1 năm 2007). "Ali coming home, buys house in Jefferson County" (PDF). The Courier-Journal. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2007.
- ↑ Sheridan, Patricia (ngày 3 tháng 12 năm 2007). "Patricia Sheridan's Breakfast With ... Lonnie Ali". Pittsburgh Post-Gazette. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "Laila Ali". Womenboxing.com. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012.
- ↑ "Boxing- Muhammad Ali". Womenboxing.com. ngày 8 tháng 6 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012.
- ↑ "Laila Ali, With Her Father Watching, Stays Undefeated". The New York Times. ngày 12 tháng 6 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2018.
- ↑ Cepeda, Elias (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "Kevin Casey will fight at UFC 199 despite passing of father-in-law Muhammad Ali". Fox Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Mohammed, Sagal (ngày 2 tháng 9 năm 2018). "My dad, the greatest: Hana Ali recalls the crushing heartache that would haunt her father his whole life". You Magazine (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2020.
- 1 2 Mitchell, Kevin (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "From the Vietnam war to Islam – the key chapters in Ali's life". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Muslim Charge Clams Up Clay". The Pittsburgh Press. ngày 7 tháng 2 năm 1964. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
- ↑ Schwartz, Larry. "He is simply ... The Greatest". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2018.
- ↑ Steinberg, Neil (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "For a time, Ali called Chicago home". Chicago Sun-Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
- 1 2 "History website, Muhammad Ali: "Cassius Clay is my slave name"". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2013.
- ↑ Gonzalez, Susan (ngày 9 tháng 6 năm 2016). "Muhammad Ali originally named for ardent abolitionist and Yale alumnus Cassius Clay". Yale News. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Heritage of a Heavyweight". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "'I am America': Muhammad Ali's fight for civil rights". 9News. Australia. Agence France-Presse. ngày 5 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Handler, M. S. (ngày 9 tháng 3 năm 1964). "Malcolm X Splits with Muhammad". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2008.(cần đăng ký mua)
- ↑ "The Champ and Mr. X". National Review. ngày 29 tháng 2 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2016.
- 1 2 Ali, Muhammad; Ali, Hana Yasmeen (2004). The Soul of a Butterfly: Reflections on Life's Journey. Simon & Schuster. ISBN 978-0-7432-6286-6. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016.
- ↑ Garcia, Courtney (ngày 6 tháng 9 năm 2013). "'Trials of Muhammad Ali' highlights boxer's anti-war opposition". theGrio. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013.
- ↑ Hauser, Thomas (1992). Muhammad Ali: His Life and Times (bằng tiếng Anh). Simon and Schuster. ISBN 978-0-671-77971-9. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Ali, Muhammad; Ali, Hana Yasmeen (2013). The Soul of a Butterfly. Simon & Schuster. tr. 85.
- ↑ "Muhammed Ali's Pilgrimage to Makkah (sic)". Emel. Số 17. tháng 2 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016.
- ↑ Rajeev, K R (ngày 5 tháng 6 năm 2016). "Muhammad Ali's visit was Kozhikode's knockout moment". The Times of India. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016.
- ↑ "Muhammad Ali: The face of 'real Islam'". Al Jazeera. ngày 6 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016.
- ↑ "Muhammad Ali: Five things you never knew about the boxing legend". CNN. ngày 28 tháng 4 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2016.
- ↑ "Family, faith and magic tricks: My 40-year friendship with Muhammad Ali". The Telegraph. ngày 4 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Muhammad Ali: Unapologetically Black, Unapologetically Muslim". On Being. ngày 9 tháng 6 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Muhammad Ali's New Spiritual Quest". Beliefnet. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Timothy Gianotti – The Imam whose on Muhammad Ali's last days and funeral". On Being. ngày 9 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Prof. Gianotti plans Muhammad Ali's funeral and memorial service". On Being. ngày 9 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "A new biography of Muhammad Ali". The Economist. ngày 26 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017.
- ↑ "Ali Leaves Hospital Vowing to take better care of himself and get more sleep". The New York Times. ngày 22 tháng 9 năm 1984. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2009.
- ↑ Friedman, J. H. (1989). "Progressive parkinsonism in boxers". Southern Medical Journal. 82 (5): 543–546. doi:10.1097/00007611-198905000-00002 (không hoạt động January 19, 2026). ISSN 0038-4348. PMID 2655100.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: DOI không hoạt động tính đến tháng 1 2026 (liên kết) - ↑ "WrestleMania I: Celebrities". Wwe.com. ngày 31 tháng 3 năm 1985. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012.
- ↑ McAvennie, Mike (ngày 17 tháng 1 năm 2007). "Happy Birthday to 'The Greatest'". WWE.com. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009.
- ↑ "Ali's words speak for themselves". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 1 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2021.
- ↑ @MuhammadAli (ngày 17 tháng 12 năm 2019). ""I'm blessed and thankful to God that I understand he's trying me. This is a trial from God. He gave me this illness to remind me that I am not number one; He is." – #MuhammadAli reflecting on having Parkinson's disease. . #Giving #Strength #Blessed #God" (Tweet) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2021 – qua Twitter.
- ↑ "60 Million Watch America: A Tribute to Heroes". ABC News. ngày 23 tháng 9 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2018.
- ↑ Bulman, May (ngày 5 tháng 6 năm 2016). "Muhammad Ali dead: Michael J Fox pays tribute to fellow Parkinson's sufferer and their 'common fight'". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016.
- ↑ Chasmar, Jessica (ngày 3 tháng 2 năm 2013). "Brother: Muhammad Ali 'could be dead in days'". The Washington Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016.
- ↑ "Muhammad Ali's daughter: Father watching Super Bowl, not near death". CBS News. ngày 5 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016.
- ↑ "Muhammad Ali hospitalized with pneumonia". The Journal. Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014.
- ↑ Bucktin, Christopher (ngày 16 tháng 1 năm 2015). "Boxing legend Muhammad Ali in hospital after being found 'unresponsive' at his home". The Mirror. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015.
- ↑ "Ali out of hospital in time for 73rd birthday". MSN. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015.
- ↑ Muhammad Ali, 'The Greatest of All Time', Dead at 74 - NBC News.
- ↑ "How Muhammad Ali's death was covered, plus best article links". Sports Illustrated (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Karangu, Jessie (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "How sports & news networks covered the breaking news of Muhammad Ali's death". Awful Announcing (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Ali: 'Citizen' of the world'". Columbian. ngày 6 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Emery, Debbie (ngày 4 tháng 6 năm 2016). "UFC 199 Invades LA Forum, Honors Boxing Legend Muhammad Ali". The Wrap. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Muhammad Ali Memorial Service". C-SPAN. ngày 10 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016.
- ↑ Schreiner, Bruce; Galofaro, Claire (ngày 7 tháng 6 năm 2016). "Will Smith, Lennox Lewis among pallbearers for Muhammad Ali, who scripted his own funeral in final days". National Post. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016.
- ↑ "President Erdoğan Attends Muhammad Ali's Funeral". www.tccb.gov.tr. Số Presidency of the Republic of Turkey. ngày 9 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2022.
- ↑ "Muhammad Ali To Be Buried In Louisville Friday". WFPL. ngày 4 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Muhammad Ali's funeral to be watched worldwide by billions". India.com. ngày 5 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Muhammad Ali Islamic Funeral Prayer Service Jenazah scheduled at Freedom Hall". WHAS-TV. ngày 6 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "In Their Own Words: Eulogies for Muhammad Ali". The New York Times. ngày 10 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2023.
- ↑ Litman, Laken (ngày 10 tháng 6 năm 2016). "Will Smith, Mike Tyson among those serving as pallbearers at Muhammad Ali's funeral". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016.
- ↑ "Annual Report 2016" (PDF). Muhammad Ali Center. tháng 1 năm 2017. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Kreps, Daniel (ngày 5 tháng 6 năm 2016). "Bob Dylan on Muhammad Ali: 'The Most Excellent of Men'". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Website chính thức
- Muhammad Ali trên IMDb
- Bản mẫu:Boxrec
- WLRN: Muhammad Ali: Made in Miami Lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2012 tại Wayback Machine
- "Cassius Clay: Before He Was Ali" tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2009) (photo essay), Life magazine.
- William Addams Reitwiesner Genealogical Services: Ancestry of Muhammad Ali
- Muhammad Ali trên C-SPAN
- Danh sách đĩa nhạc của Muhammad Ali trên Discogs
- Muhummad Ali(Aveleyman)
| Thành tích | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm Olga Korbut Niki Lauda |
BBC Overseas Sports Personality of the Year 1973, 1974 1978 |
Kế nhiệm Arthur Ashe Björn Borg |
| Thế vận hội | ||
| Tiền nhiệm Antonio Rebollo |
Final Summer Olympic Torchbearer Atlanta 1996 |
Kế nhiệm Cathy Freeman |
- Pages using infobox adult biography with unknown parameters
- Quản lý CS1: DOI không hoạt động tính đến tháng 1 2026
- Sơ khai nhân vật Hoa Kỳ
- Sinh năm 1942
- Mất năm 2016
- Người Mỹ gốc Anh
- Người Mỹ gốc Ireland
- Nghệ sĩ của Columbia Records
- Người đoạt Huy chương Tự do Tổng thống
- Trọng tài đô vật chuyên nghiệp
- Huy chương vàng Thế vận hội của Hoa Kỳ
- Người Mỹ gốc Phi
- Nhà vô địch WBA
- Nhà vô địch WBC
- Nhà vô địch The Ring