Sự mở rộng của NATO

Kế hoạch hành động thành viên Bạn bè tăng cường đối thoại |
Kế hoạch hành động bạn bè hợp tác độc lập (IPAP) Kế hoạch quan hệ hữu nghị hoà bình (PfP) Người có tâm ý về PfP |
Sự mở rộng của NATO (tiếng Anh: Enlargement of NATO), còn được gọi là sự mở rộng về phía đông của NATO, là việc NATO kết nạp các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ và các nước Trung - Đông Âu vào NATO. Đây là hệ quả từ sự chuyển biến cấu trúc và đường lối chiến lược của châu Âu sau Chiến Tranh Lạnh. Trong giai đoạn hậu Chiến Tranh Lạnh, các nước Trung - Đông Âu và các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ đã bắt đầu vận động và nộp đơn chính thức xin gia nhập NATO.
Tháng 3 năm 1999, NATO lần đầu tiên chấp thuận Séc, Hungary và Ba Lan được kết nạp làm thành viên. Tháng 3 năm 2004, bảy nước bao gồm Slovakia, Bulgaria, Romania, Slovenia cùng với các nước ven bờ biển Baltic là Estonia, Latvia và Lithuania, trở thành nước thành viên chính thức của tổ chức NATO. Từ 12 nước sáng lập vào năm 1949, đến 2004 đã có tới 30 thành viên, trong đó đa số là các nước Trung - Đông Âu gia nhập sau khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc.
Tính đến năm 2021, NATO chính thức công nhận ba nước biểu thị ý nguyện làm thành viên gồm: Bosnia và Herzegovina, Georgia và Ukraine.[1] Gia nhập NATO là vấn đề tranh luận của một số nước khác nằm ngoài liên minh NATO như Thuỵ Điển, Phần Lan và Serbia. Tại Ukraine, việc ủng hộ hoặc phản đối tư cách thành viên có liên quan đến ý thức hệ dân tộc và chủ nghĩa dân tộc. Sự gia nhập của các nước cựu Khối phía Đông và các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ là một trong những nguyên nhân gia tăng mãnh liệt cục thế cấp bách giữa NATO và Nga. Sự mở rộng của NATO là một trong những lí do khiến Tổng thống Nga Vladimir Putin xuất quân xâm lược Ukraine vào năm 2022.[2]
Các lần mở rộng đã thực hiện
[sửa | sửa mã nguồn]Thời kỳ Chiến tranh lạnh
[sửa | sửa mã nguồn]Vào thời điểm thành lập, NATO có 12 nước thành viên bao gồm: Bỉ, Luxembourg, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Ý, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ.[3] Sự khởi đầu của Chiến tranh lạnh giai đoạn 1947-1953 chứng kiến sự chia rẽ của tư tưởng chính trị cùng với cả kinh tế giữa các nhà nước tư bản Tây Âu, nhận sự chống lưng của Hoa Kỳ (sử dụng kế hoạch Marshall và Thuyết Truman)[4][5] và các nhà nước cộng sản Đông Âu, nhận sự hậu thuẫn từ Liên Xô. Tư tưởng đi ngược lại với chủ nghĩa cộng sản kiểu Liên Xô đã trở thành một tính chất định hình của tổ chức. Cả chính quyền chống cộng sản của Hy Lạp vừa mới có cuộc nội chiến với đội quân thân cộng sản và chính quyền thuộc Đảng Dân chủ mới được bầu cử của Thổ Nhĩ Kỳ đã tham gia tổ chức NATO vào tháng Hai năm 1952 sau khi nhận được viện trợ từ Mỹ.[6]
Phân tích của học giả
[sửa | sửa mã nguồn]Sự mở rộng về phía đông của NATO sau chiến tranh Lạnh, thường được coi là cuộc đối đầu của các nước phương Tây lấy Hoa Kỳ làm nước đứng đầu và Nga. Nhà quan sát Hoa Kỳ Thomas Friedman cho biết, chính sách mở rộng hướng vào Nga của NATO là ngu ngốc, vào lúc Nga có lịch sử dân chủ nhất, ít bị đe dọa nhất, việc phá hoại các hiệp ước khiến cho sự mở rộng về phía đông của NATO liên tục không ngừng nhằm đè nén trói buộc Nga, dẫn đếm cảm giác bất an và bị sỉ nhục của dân chúng Nga, từ đó đặt nền móng cho sự trỗi dậy của Putin.[7][8]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Enlargement". The North Atlantic Treaty Organization. ngày 5 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "Why is Russia invading Ukraine and what does Putin want?". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "NATO member countries". Organization | NATO (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Bock-Schroeder, Jans. "Marshall Plan 1948-1952: Rebuilding Europe, Containing Communism". soviet-union.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Milestones in the History of U.S. Foreign Relations - Office of the Historian". history.state.gov. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2026.
- ↑ guest (ngày 18 tháng 2 năm 2026). "Greece's Complicated Relationship With NATO and Its Role Today". GreekReporter.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Thomas Friedman (ngày 7 tháng 3 năm 2014). "Không thể để cho Putin muốn làm gì thì làm" (bằng tiếng Trung). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2017.
- ↑ Uwe Klußmann, Matthias Schepp and Klaus Wiegrefe (ngày 26 tháng 11 năm 2009). "Did the West Break Its Promise to Moscow?" (bằng tiếng Anh). Spiegel Online. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2017.